trongdong
text logo

TĂNG CƯỜNG TRIỂN KHAI, THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT 36-NQ/TW VÀ LUẬT CẢNH SÁT BIỂN VIỆT NAM (2018) GIỮ VỮNG QUỐC PHÒNG AN NINH VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN BỀN VỮNG

Tác giả bài viết: Ths. Luật gia Phạm Quốc Sỹ

Thứ năm - 16/09/2021 21:28
Từ cuối năm 2018, sự ra đời của Nghị quyết 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế Biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và Luật Cảnh sát biển Việt Nam không chỉ xác định chủ quyền biển, đảo nước ta trong các Nghị quyết quan trọng của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước, mà còn đánh dấu một thời kỳ phát triển mới giữ vững quốc phòng, an ninh và phát triển kinh tế biển bền vững.
Việt Nam nằm ở bờ tây của Biển Đông. Đối với Việt Nam, Biển Đông đóng vai trò quan trọng trong quá trình xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong lịch sử, hiện tại và tương lai. Biển Đông đã tạo cho Việt Nam có một vị trí chiến lược thuận lợi, với bờ biển trải dài khoảng 3.260km, từ tỉnh Quảng Ninh đến tỉnh Kiên Giang. Trong số 63 tỉnh, thành phố của nước ta có 28 tỉnh, thành phố giáp biển, diện tích các huyện ven biển chiếm 17% tổng diện tích cả nước và là nơi sinh sống của hơn 1/5 dân số cả nước.

Dựa vào Biển Đông, Việt Nam có thể phát triển mạnh những ngành kinh tế như thủy sản, dầu khí, giao thông hàng hải, đóng tàu, du lịch… Điều kiện tự nhiên của bờ biển Việt Nam là tiềm năng to lớn cho ngành giao thông hàng hải Việt Nam. Dọc bờ biển Việt Nam có khoảng 10 điểm có thể xây dựng cảng biển nước sâu và nhiều điểm cảng trung bình với tổng sản lượng hàng hóa vận chuyển có thể đạt 50 triệu tấn/năm. Biển Đông được coi là con đường chiến lược về giao lưu và thương mại quốc tế giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, ở cả bốn phía đều có đường thông ra Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương qua các eo biển. Hầu hết các nước trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương đều có các hoạt động thương mại hàng hải rất mạnh trên Biển Đông. Trong tổng số 10 tuyến đường biển lớn nhất trên thế giới hiện nay, có 5 tuyến đi qua Biển Đông hoặc có liên quan đến Biển Đông….

 Theo từ điển bách khoa mở Wikipedia, biển Việt Nam có diện tích rộng hơn 1.000.000 km2 và hơn 3.000 đảo lớn nhỏ, nằm trọn trong Biển Đông, có vị trí địa chiến lược vô cùng quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Ngay từ khi giành được độc lập, thống nhất đất nước, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách quan trọng nhằm bảo vệ, quản lý và khai thác biển, đảo.

Nhìn nhận rõ lợi thế của biển Việt Nam, đứng trước yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Hội nghị lần thứ Tám, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá XII) đã ban hành Nghị quyết 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (sau đây gọi tắt là Nghị quyết 36).

Nghị quyết 36 đã nêu rõ chủ trương của Đảng, Nhà nước về đưa nước ta trở thành quốc gia biển, thể hiện ở 5 nội dung quan điểm cơ bản:

(1) Thống nhất tư tưởng, nhận thức về vị trí, vai trò và tầm quan trọng đặc biệt của biển đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân. Biển là bộ phận cấu thành chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, là không gian sinh tồn, cửa ngõ giao lưu quốc tế, gắn bó mật thiết với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Việt Nam phải trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh và an toàn; phát triển bền vững kinh tế biển gắn liền với bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, tăng cường đối ngoại, hợp tác quốc tế về biển, góp phần duy trì môi trường hoà bình, ổn định cho phát triển. Phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, là quyền và nghĩa vụ của mọi tổ chức, doanh nghiệp và người dân Việt Nam.

(2) Phát triển bền vững kinh tế biển trên nền tảng tăng trưởng xanh, bảo tồn đa dạng sinh học, các hệ sinh thái biển; bảo đảm hài hoà giữa các hệ sinh thái kinh tế và tự nhiên, giữa bảo tồn và phát triển, giữa lợi ích của địa phương có biển và địa phương không có biển; tăng cường liên kết, cơ cấu lại các ngành, lĩnh vực theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh; phát huy tiềm năng, lợi thế của biển, tạo động lực phát triển kinh tế đất nước.

(3) Giữ gìn giá trị, phát huy truyền thống lịch sử, bản sắc văn hoá biển đi đôi với xây dựng xã hội gắn kết, thân thiện với biển; bảo đảm quyền tham gia, hưởng lợi và trách nhiệm của người dân đối với phát triển bền vững kinh tế biển trên cơ sở công bằng, bình đẳng, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật.

(4) Tăng cường quản lý tổng hợp, thống nhất tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, bảo tồn đa dạng sinh học, các hệ sinh thái biển tự nhiên; chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng. Đẩy mạnh đầu tư vào bảo tồn và phát triển giá trị đa dạng sinh học, phục hồi các hệ sinh thái biển; bảo vệ tính toàn vẹn của hệ sinh thái từ đất liền ra biển. Gắn bảo vệ môi trường biển với phòng ngừa, ngăn chặn ô nhiễm, sự cố môi trường, tăng cường hợp tác khu vực và toàn cầu.

(5) Lấy khoa học, công nghệ tiên tiến, hiện đại và nguồn nhân lực chất lượng cao làm nhân tố đột phá. Ưu tiên đầu tư ngân sách nhà nước cho công tác nghiên cứu, điều tra cơ bản, đào tạo nguồn nhân lực về biển; kết hợp huy động các nguồn lực trong và ngoài nước. Chủ động, nâng cao hiệu quả hội nhập, hợp tác quốc tế, ưu tiên thu hút các nhà đầu tư chiến lược hàng đầu thế giới có công nghệ nguồn, trình độ quản lý tiên tiến trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.

Với quan điểm đó, Đảng và nhà nước ta đã chỉ rõ: Mục tiêu tổng quát đến năm 2030:

Đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh; đạt cơ bản các tiêu chí về phát triển bền vững kinh tế biển; hình thành văn hoá sinh thái biển; chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng; ngăn chặn xu thế ô nhiễm, suy thoái môi trường biển, tình trạng sạt lở bờ biển và biển xâm thực; phục hồi và bảo tồn các hệ sinh thái biển quan trọng. Những thành tựu khoa học mới, tiên tiến, hiện đại trở thành nhân tố trực tiếp thúc đẩy phát triển bền vững kinh tế biển.

Đồng thời, nêu rõ tầm nhìn đến năm 2045:

Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh, an toàn; kinh tế biển đóng góp quan trọng vào nền kinh tế đất nước, góp phần xây dựng nước ta thành nước công nghiệp hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa; tham gia chủ động và có trách nhiệm vào giải quyết các vấn đề quốc tế và khu vực về biển và đại dương.

Tuy nhiên, hiện nay Biển Đông được đánh giá là một trong những vùng biển có nhiều tranh chấp phức tạp, không chỉ liên quan đến lợi ích của nhiều nước ven Biển Đông, mà còn liên quan đến lợi ích chính trị của nhiều cường quốc hải dương trên thế giới. Tình hình vùng biển Việt Nam diễn biến ngày một khó lường, các tình huống liên quan tới quốc phòng – an ninh trên biển liên tiếp xảy ra, do chiến lược, tham vọng kiểm soát biển của các nước trong khu vực; các mối đe dọa an ninh truyền thống, phi truyền thống, tội phạm có tổ chức, tội phạm xuyên quốc gia về ma túy, buôn lậu, gian lận thương mại; vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn trên biển…. Xác định rõ là một quốc gia có lợi thế và tiềm năng to lớn để phát triển bền vững kinh tế biển, quan điểm nhất quán, xuyên suốt của Đảng, Nhà nước ta về phát triển kinh tế biển phải kết hợp chặt chẽ với bảo đảm quốc phòng, an ninh (QP-AN).

Vì lẽ đó, vấn đề đảm bảo quốc phòng an ninh trên biển trở thành điều kiện tiên quyết hàng đầu cho phát triển kinh tế biển. Kinh tế biển muốn phát triển thì an ninh quốc phòng trên biển phải được bảo đảm, quốc phòng an ninh biển được bảo đảm thì cơ hội cũng như là tiền đề cho hợp tác quốc tế về kinh tế biển được mở rộng, phát triển, là cơ sở xây dựng các chương trình phát triển kinh tế biển lâu dài và bền vững. Để đảm bảo và là lực lượng tiên phong cho công tác đảm bảo an ninh quốc phòng trên biển thì nhiệm vụ của Cảnh sát biển Việt Nam ngày một đa dạng, nặng nề hơn trong giai đoạn hiện nay.

Xuất phát từ đặc thù vùng biển Việt Nam rộng; hoạt động quản lý nhà nước trên biển đa ngành, đa lĩnh vực cần có sự phối hợp nhịp nhàng giữa các Bộ, ngành, chính quyền địa phương các cấp với Cảnh sát biển Việt Nam, do đó Cảnh sát biển Việt Nam có vị trí vai trò nòng cốt, trung tâm, có phạm vi hoạt động rộng trên các vùng biển Việt Nam để bảo đảm thực thi pháp luật nhiều lĩnh vực quản lý nhà nước trên biển. Trong bối cảnh Việt Nam hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng, một mặt Cảnh sát biển Việt Nam cần phải tăng cường hợp tác quốc tế với các lực lượng thực thi pháp luật trên biển của quốc gia khác trong đấu tranh phòng chống vi phạm, tội phạm trên biển; hợp tác thực hiện quyền truy đuổi; tiến hành tuần tra chung; diễn tập an ninh hàng hải; chống cướp biển, cướp có vũ trang chống lại tàu thuyền..; mặt khác, cần mở rộng hợp tác quốc tế với những quốc gia có lực lượng thực thi pháp luật trên biển mạnh; có kinh nghiệm tổ chức, xây dựng lực lượng; có quan hệ đối tác chiến lược với Việt Nam. Qua đó, nâng cao được năng lực thực thi pháp luật trên biển, đồng thời tranh thủ được sự hỗ trợ, ủng hộ về trang bị, phương tiện, đào tạo.

Việc luật hóa hoạt động hợp tác quốc tế của Cảnh sát biển Việt Nam; bổ sung quy định cụ thể, sát thực tiễn sẽ tạo hành lang pháp lý thông thoáng, thuận lợi để Cảnh sát biển Việt Nam thực hiện trách nhiệm quốc gia ven biển; xây dựng được các mối quan hệ hợp tác hiệu quả với các lực lượng trên biển của quốc gia khác; nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý, bảo vệ vùng biển, đồng thời thiết thực hỗ trợ các hoạt động ngoại giao của Nhà nước trong giải quyết những vấn đề quốc tế liên quan đến chủ quyền, an ninh biển, đảo.

Vì vậy, ngay sau khi Nghị quyết 36 ban hành ngày 22/10/2018, đến ngày 19/11/2018 Quốc hội đã ban hành Luật Cảnh sát biển số 33/2018/QH14. Việc Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua Luật Cảnh sát biển Việt Nam sẽ là tuyên bố mạnh mẽ, thể hiện ý chí tập trung của Đảng, Nhà nước về quyết tâm bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia trên biển bằng các biện pháp pháp luật, hòa bình, phù hợp pháp luật quốc tế. Trong chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển nói chung, Luật Cảnh sát biển Việt Nam có vai trò quan trọng và nắm giữ sứ mệnh quan trọng, không thể thay thế…

Việc quy định cụ thế và chi tiết về nhiệm vụ, quyền hạn của Cảnh sát biển Việt Nam; phạm vi hoạt động của Cảnh sát biển Việt Nam, tuần tra, kiểm tra, kiểm soát; Sử dụng vũ khí, huy động phương tiện; Phối hợp hoạt động giữa Cảnh sát biển Việt Nam với cơ quan, tổ chức, lực lượng chức năng; Tổ chức của Cảnh sát biển Việt Nam; Bảo đảm hoạt động và chế độ chính sách của Cảnh sát biển Việt Nam; Quản lý nhà nước và trách nhiệm của Bộ, cơ quan ngang Bộ, chính quyền địa phương với Cảnh sát biển Việt Nam… trong Luật Cảnh sát biển Việt Nam là căn cứ vững chắc để lực lượng Cảnh sát biển cũng như các cơ quan tổ chức, doanh nghiệp và các cá nhân áp dụng và thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình trong xây dựng và phát triển kinh tế biển.

Đây chính là một trong những khâu đột phá hàng đầu được nêu ra trong Nghị quyết 36, đó là: Hoàn thiện thể chế phát triển bền vững kinh tế biển, ưu tiên hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới, phát triển mô hình tăng trưởng xanh, bảo vệ môi trường, nâng cao năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh quốc tế của các ngành kinh tế biển, các vùng biển, ven biển; hoàn thiện cơ chế quản lý tổng hợp và thống nhất về biển. Rà soát, điều chỉnh, bổ sung và lập mới các quy hoạch liên quan đến biển, bảo đảm tính liên kết, đồng bộ giữa các ngành, địa phương.

Vị trí của Cảnh sát biển Việt Nam: được bổ sung mới vị trí “làm nòng cốt thực thi pháp luật trên biển” nhằm thể chế đường lối của Đảng về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; thực hiện Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 09/02/2007 của Ban chấp hành Trung ương khóa X về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020; Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22-10-2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; phù hợp với Luật Quốc phòng về vị trí nòng cốt của lực lượng vũ trang nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.

Một trong các giải pháp chủ yếu được vạch ra trong chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển, liên quan đến quốc phòng an ninh trên biển là:

… Tăng cường năng lực bảo đảm quốc phòng, an ninh, thực thi pháp luật trên biển:

Hoàn thiện tổ chức các lực lượng bảo đảm quốc phòng, an ninh, thực thi pháp luật trên biển. Đầu tư trang thiết bị hiện đại, chú trọng đào tạo nhân lực, nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật và tăng cường khả năng hiệp đồng, tác chiến của các lực lượng tham gia bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và các quyền lợi chính đáng, hợp pháp của đất nước. Xây dựng lực lượng công an khu vực ven biển, đảo, các khu đô thị, khu kinh tế, khu công nghiệp ven biển vững mạnh, làm nòng cốt bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội vùng biển, đảo. Nâng cao năng lực hoạt động của các lực lượng trực tiếp làm nhiệm vụ phòng, tránh và giảm nhẹ thiệt hại thiên tai, cứu nạn, cứu hộ, ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng khu vực biển, đảo; bảo đảm an ninh, an toàn cho dân cư, người lao động và các hoạt động kinh tế khu vực biển; xây dựng vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vùng biển, đảo.

Tăng cường năng lực đảm bảo quốc phòng an ninh thực thi pháp luật trên biển là nhiệm vụ quan trọng. Tuy nhiên, cần tránh chồng chéo cũng như thiếu hụt trong phân công nhiệm vụ giữa các lực lượng. Đây cũng là hoạt động hết sức cần thiết trong phối hợp phát triển kinh tế biển, bảo đảm an ninh quốc phòng trên biển. Cần chỉ ra nhiệm vụ, quyền hạn để tránh lạm quyền hoặc chồng lấn, hoặc hạn chế quyền của các tổ chức, cá nhân. Với nhiệm vụ và quyền hạn được quy định rõ ràng như vậy, chúng ta thấy vai trò to lớn của Luật CSBVN trong chiến lược phát triển kinh tế biển. Đã chỉ rõ và quy định giao nhiệm vụ cho lực lượng cảnh sát biển.  Với các nhiệm vụ như: Bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia, an ninh, lợi ích quốc gia, dân tộc; bảo vệ tài nguyên, môi trường biển; bảo vệ tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân trên biển; Đấu tranh phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật, giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn trên biển; tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn và tham gia khắc phục sự cố môi trường biển….Luật Cảnh sát biển Việt Nam (2018) đều hướng tới bảo đảm an ninh quốc phòng trên biển, hỗ trợ người dân, các tổ chức doanh nghiệp phát triển kinh tế biển.  

 Nhiệm vụ của Cảnh sát biển Việt Nam (điều 8 Luật Cảnh sát biển Việt Nam): (1).Thu thập thông tin, phân tích, đánh giá, dự báo tình hình để đề xuất chủ trương, giải pháp, phương án bảo vệ an ninh quốc gia và thực thi pháp luật trên biển; nghiên cứu, phân tích, dự báo, tham mưu với cấp có thẩm quyền ban hành chính sách, pháp luật về bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia, an ninh quốc gia trong vùng biển Việt Nam, bảo đảm trật tự, an toàn và đấu tranh phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật trên biển; (2). Bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia, an ninh, lợi ích quốc gia, dân tộc; bảo vệ tài nguyên, môi trường biển; bảo vệ tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân trên biển; (3). Đấu tranh phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật, giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn trên biển; tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn và tham gia khắc phục sự cố môi trường biển; (4). Tham gia xây dựng thế trận quốc phòng, an ninh và xử lý các tình huống quốc phòng, an ninh trên biển; (5). Thực hiện tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật; (6). Tiếp nhận, sử dụng nhân lực, tàu thuyền và phương tiện, thiết bị kỹ thuật dân sự được huy động tham gia bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia trong vùng biển Việt Nam; (7). Thực hiện hợp tác quốc tế trên cơ sở điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và thỏa thuận quốc tế có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Cảnh sát biển Việt Nam.

Quyền hạn của Cảnh sát biển Việt Nam: (1). Tuần tra, kiểm tra, kiểm soát người, tàu thuyền, hàng hóa, hành lý trong vùng biển Việt Nam theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan; (2). Sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ theo quy định tại Điều 14 của Luật này; (3). Sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ theo quy định tại Điều 15 của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan; (4). Xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; (5). Tiến hành một số hoạt động điều tra hình sự theo quy định của pháp luật về tổ chức cơ quan điều tra hình sự, pháp luật về tố tụng hình sự; (6). Truy đuổi tàu thuyền vi phạm pháp luật trên biển; (7). Huy động người, tàu thuyền và phương tiện, thiết bị kỹ thuật dân sự của cơ quan, tổ chức, công dân Việt Nam trong trường hợp khẩn cấp; (8). Đề nghị tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động trong vùng biển Việt Nam hỗ trợ, giúp đỡ trong trường hợp khẩn cấp; (9). Bắt giữ tàu biển theo quy định của pháp luật; (10). Áp dụng biện pháp công tác theo quy định tại Điều 12 của Luật này.

Bên cạnh đó, việc mở rộng hợp tác quốc tế với những quốc gia có lực lượng thực thi pháp luật trên biển mạnh, có kinh nghiệm tổ chức, xây dựng lực lượng, quan hệ đối tác chiến lược với Việt Nam là cực kỳ cần thiết trong chiến lược phát triển kinh tế biển. Thông qua đó, nâng cao năng lực thực thi pháp luật, tranh thủ sự hỗ trợ, ủng hộ về trang bị, phương tiện, đào tạo. Vì vậy, Luật Cảnh sát biển Việt Nam không chỉ tạo cơ sở để nâng cao hiệu quả công tác quản lý, bảo vệ vùng biển, mà còn tạo thuận lợi cho hoạt động hợp tác quốc tế của Cảnh sát biển Việt Nam, xây dựng mối quan hệ hữu nghị, hợp tác với các lực lượng thực thi pháp luật trên biển của các quốc gia trên thế giới; thiết thực hỗ trợ hoạt động ngoại giao của Nhà nước, đối ngoại quốc phòng trong giải quyết những vấn đề quốc tế liên quan đến chủ quyền, an ninh biển, đảo.

Việc phát triển kinh tế biển, để thực hiện tốt các nhiệm vụ chung đã đề ra, cần có sự thống nhất và đồng bộ của các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương. Quan trọng là nâng cao hiệu quả của hoạt động phối hợp, để từ đó có sự gắn kết và đồng thuận chung, giải quyết các công việc chung không bị chồng chéo, trì trệ.. Vì thế Luật Cảnh sát biển Việt Nam đã có quy định rất rõ về hoạt động phối hợp bảo đảm một số nguyên tắc như: Phải trên cơ sở nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, lực lượng chức năng thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo quy định của pháp luật; không làm cản trở hoạt động hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân trên biển; Đồng thời Cảnh sát biển Việt Nam và cơ quan, tổ chức, lực lượng chức năng thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trực tiếp phối hợp để giải quyết kịp thời các vụ việc và hỗ trợ nhau thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quy định. Bên cạnh đó cần phải bảo đảm sự chủ trì, điều hành tập trung, thống nhất, giữ bí mật thông tin về quốc phòng, an ninh và biện pháp nghiệp vụ của cơ quan, tổ chức, lực lượng chức năng trong quá trình phối hợp…..

Nội dung của hoạt động phối hợp bao gồm: (1). Trao đổi thông tin, tài liệu; đề xuất xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; (2). Bảo vệ an ninh quốc gia, chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên biển; (3). Bảo vệ tài nguyên, môi trường biển; bảo vệ tài sản của Nhà nước, tổ chức, cá nhân; tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của cá nhân hoạt động hợp pháp trên biển;(4). Tuần tra, kiểm tra, kiểm soát giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn trên biển; phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh chống tội phạm, vi phạm pháp luật; đấu tranh, phòng, chống cướp biển, cướp có vũ trang chống lại tàu thuyền; (5). Phòng, chống thiên tai; tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn và ứng phó, khắc phục sự cố môi trường biển; (6). Đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát biển Việt Nam; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho Nhân dân; (7). Thực hiện hợp tác quốc tế; (8). Thực hiện các hoạt động phối hợp khác có liên quan.

Đưa Luật Cảnh sát biển đi vào thực tiễn cuộc sống là nghĩa vụ, quyền lợi, trách nhiệm chính trị của mọi công dân, tổ chức, đoàn thể của cả hệ thống chính trị. Để khẳng định và nâng cao vai trò và sứ mệnh của Luật Cảnh sát biển trong chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển, cần thiết phải thực hiện tốt một số vấn đề sau đây:

1. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, quán triệt các nội dung cơ bản của Luật Cảnh sát biển, nhất là đối với các bộ, ngành có liên quan và cấp ủy, chính quyền các địa phương và đối với 28 tỉnh, thành phố ven biển đến với đội ngũ cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là ngư dân để mọi người nắm vững, hiểu rõ, sẵn sàng chấp hành việc huy động nhân lực, phương tiện nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Cảnh sát biển khi thực tiễn, yêu cầu nhiệm vụ trên biển đặt ra, làm cho mọi tầng lớp nhân dân chuyển biến tích cực về mặt nhận thức với chiến lược phát triển kinh tế biển.

Tăng cường công tác tuyên truyền, giới thiệu, quảng bá Luật Cảnh sát biển bằng nhiều hình thức, nhất là lồng ghép trong các chương trình truyền thông… nhằm tranh thủ sự ủng hộ của các nước trong phối hợp thực thi pháp luật trên biển, tạo sự đồng thuận, sức mạnh tổng hợp để bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán, an ninh quốc gia, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, hữu nghị, hợp tác. Nhận thức rõ vị trí, tầm quan trọng và quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc các quy định của Luật Cảnh sát biển Việt Nam trong chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển. 

2. Cần tiếp tục nghiên cứu, tham mưu đề xuất Chính phủ ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành Luật Cảnh sát biển. Cần thiết xây dựng, ban hành và kịp thời sửa đổi bổ sung các nghị định: Quy định về việc quản lý, sử dụng và danh mục các phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ của lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam; Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Cảnh sát biển Việt Nam sát với thực tiễn bảo vệ quốc phòng an ninh trên biển; Từ đó, tham mưu cho Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ban hành, sửa đổi bổ sung các thông tư: Quy định quy trình tuần tra, kiểm tra, kiểm soát của lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam; Quy định điều kiện, tiêu chuẩn chọn công dân vào lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam,… cho phù hợp với tình hình mới nhằm hướng dẫn, triển khai thực hiện Luật. Song song với đó, cần tổ chức đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng cho cán bộ, chiến sĩ trong toàn lực lượng nhằm quán triệt, học tập, góp phần nâng cao nhận thức, ý thức tuân thủ, chấp hành, thực hiện Luật Cảnh sát biển trong thi hành nhiệm vụ.

3. Cảnh sát biển Việt Nam thực hiện nhiều hoạt động tăng cường hợp tác với các lực lượng thực thi pháp luật trên biển của quốc gia khác trong đấu tranh phòng, chống vi phạm, tội phạm trên biển, thực hiện quyền truy đuổi, tiến hành tuần tra chung, diễn tập an ninh hàng hải, chống cướp biển, cướp có vũ trang chống lại tàu thuyền... Do đó cần có ưu tiên nguồn lực, tài chính cho công tác đào tạo, huấn luyện, trang bị  phương tiện, công cụ hỗ trợ…gắn chặt nhiệm vụ của Cảnh sát biển Việt Nam với phát triển kinh tế biển lâu dài.

4. Tăng cường hoạt động phối hợp giữa Lực lượng Cảnh sát biển với các cấp chính quyền địa phương, đặc biệt là đối với doanh nghiệp phát triển kinh tế ở ven biển và ngư dân. Xác định rõ các nhiệm vụ cấp bách, nhiệm vụ thường xuyên, có lộ trình và phân công cụ thể trong từng giai đoạn giữa các lực lượng Cảnh sát biển với các đơn vị liên quan để hoạch định rõ mục tiêu và tiến trình thực hiện từng nhiệm vụ cụ thể, phối hợp chặt chẽ và có hiệu quả, thực hiện tốt các giải pháp mà Nghị quyết 36 đã đề ra.

5.  Đẩy mạnh vai trò quản lý nhà nước, nâng cao năng lực của từng cấp ngành, xây dựng cơ chế điều phối liên ngành trong quản lý nhà nước về biển, đảo. Chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương rà soát, điều chỉnh, bổ sung các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình phát triển có liên quan cho phù hợp từng giai đoạn, gắn với thực tiễn biển Đông có nhiều biến động liên tục. Tăng cường quan tâm và thực hiện có hiệu quả của các hoạt động cần có sự phối hợp liên ngành đối với từng công việc, nhiệm vụ cụ thể trong kế hoạch tổng thể của chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam.

6. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thi hành Luật Cảnh sát biển, lồng ghép trong các chương trình phối hợp kiểm tra, đánh giá việc thực thi pháp luật nói chung và theo chuyên đề. Định kỳ có sơ, tổng kết để đánh giá hiệu quả thi hành Luật và kịp thời chỉnh sửa bổ sung các vướng mắc khó khăn phat sinh trong thực tiễn. Thực hiện khen thưởng kịp thời để động viên khuyến khích tập thể cá nhân có nhiều thành tích trong việc thực thi Luật Cảnh sát biển có nhiều đóng góp trong việc thực hiện các nhiệm vụ nằm trong chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển./.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây