trongdong
text logo

LUẬT CẢNH SÁT BIỂN VIỆT NAM TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA

Tác giả bài viết: Bùi Ngân

Thứ năm - 28/10/2021 03:15
Việt Nam là quốc gia ven biển, có bờ biển dài trên 3.260 km, trải dài từ Bắc xuống Nam, đứng thứ 27 trong số 157 quốc gia ven biển, các quốc đảo và các lãnh thổ trên thế giới; trong đó có hơn 3.000 đảo lớn nhỏ, cùng 2 quần đảo lớn là Hoàng Sa và Trường Sa. Biển, đảo Việt Nam là một bộ phận lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc, cấu thành chủ quyền quốc gia, là không gian sinh tồn, cửa ngõ giao lưu quốc tế, có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.
 
LUẬT CẢNH SÁT BIỂN VIỆT NAM TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA
Trong lịch sử phát triển của của dân tộc, cùng với quá trình sinh sống, lao động và khai thác các nguồn tài nguyên biển phục vụ cho đời sống, ông cha ta đã xây dựng và hình thành những quan niệm, lối sống, văn hoá gắn với biển; một mặt mang đầy đủ những nguyên tắc cơ bản trong tư duy, tình cảm, cách ứng xử trong các mối quan hệ xã hội, cộng đồng và gia đình, các chuẩn mực trong lối sống và nhân cách…thể hiện nét chung nhất của văn hóa Việt; mặt khác lại có những sắc thái, những chuẩn mực và giá trị riêng biệt làm phong phú thêm cho khối thống nhất chung của văn hóa Việt Nam. Qua đó, góp phần tạo dựng nền văn hoá và con người Việt Nam, duy trì và phát triển nền văn minh nước nhà.

Cho đến nay, việc gìn giữ những nét đẹp trong truyền thống văn hóa biển, cùng những yêu cầu về phát huy lợi thế, khai thác tiềm năng, thế mạnh của biển, đảo; xây dựng và xác lập những giá trị tiên tiến, hiện đại cho con người và văn hóa, kết hợp với bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của dân tộc được xác định là nhiệm vụ trọng yếu và là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta.

Nhằm thể chế hóa chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng; góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về quản lý, bảo vệ biển, đảo và phát triển kinh tế - văn hóa biển, Luật Cảnh sát biển Việt Nam đã được Quốc hội thông qua tại Kỳ họp thứ 6 ngày 19/11/2018, bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày 1/7/2019. Luật gồm 8 chương, 41 điều, được xây dựng trên cơ sở thể chế đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước về quản lý, bảo vệ biển, đảo Việt Nam, chiến lược phát triển kinh tể biển Việt Nam; cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013; đảm bảo tính thống nhất với hệ thống pháp luật Việt Nam; tương thích với điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; kế thừa Pháp lệnh lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam năm 2008.

Dưới góc độ pháp lý, việc Quốc hội ban hành Luật Cảnh sát biển Việt Nam đã thể hiện tuyên bố mạnh mẽ của Đảng và Nhà nước ta về quyết tâm bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia trên biển bằng các biện pháp pháp luật, hòa bình, phù hợp với pháp luật quốc tế. Đồng thời, đây cũng là một bước hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật về Cảnh sát biển Việt Nam nói riêng, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và phát huy sức mạnh tổng hợp trong bảo vệ biển, đảo Việt Nam giai đoạn hiện nay.

Còn dưới góc độ văn hóa, Luật Cảnh sát biển Nam cũng thể hiện những đặc trưng cơ bản nhất về quy tắc ứng xử, truyền thống, giá trị nổi bật của nền văn hóa dân tộc nói chung cũng như văn hóa biển Việt Nam nói riêng, được chọn lọc, kết tinh từ bao đời nay. Trước hết là truyền thống đánh giặc ngoại xâm, bảo vệ chủ quyền, an ninh trên biển.

Là quốc gia có đường biển kéo dài, văn hóa biển của người Việt còn thể hiện rõ nét văn hóa của “những người canh giữ thành lũy anh ninh quốc phòng cho đất nước”. Lịch sử cho thấy, từ khi dựng nước đến nay, trong những mốc son quan trọng của công cuộc bảo vệ tổ quốc chống ngoại xâm luôn luôn xuất hiện những trận thủy chiến. Nhà nước Việt Nam, thời kỳ nào cũng vậy luôn coi trọng việc quản lý biển - đảo, coi đó như là những đồn lũy cho an ninh quốc phòng. Nhiều địa điểm cửa sông, bờ biển đã trở thành những chiến trường ghi dấu chiến công giữ nước. Từ thời Hai Bà Trưng (thế kỷ I), nữ tướng Lê Chân vừa có nhan sắc, vừa giỏi võ nghệ, lại tinh thông binh pháp, đã là người đã khai phá vùng cửa sông Cấm – Hải Phòng ngày nay.  Sau đó là các trận chiến trên sông Bạch Đằng lần thứ nhất năm 938 – dưới thời Ngô Quyền, chống quân Nam Hán do Lưu Hoằng Thao chỉ huy; trận Bạch Đằng lần thứ hai, năm 981 – dưới thời Lê Hoàn chống quân Tống; và lần thứ ba năm 1288 – Trần Hưng Đạo chỉ huy chống quân Nguyên đều là những mốc son trong lịch sử chống ngoại xâm oai hùng của dân tộc gắn liền với văn hóa biển.

Năm 1598, ta đánh thắng hạm đội thực dân Tây Ban Nha; năm 1642-1644 hai lần liên tiếp, thế tử của chúa Nguyễn là Dũng lễ hầu Nguyễn Phúc Tần, trấn thủ đất Quảng Nam đã chỉ huy một đoàn chiến thuyền đánh tan một đội tầu Hà Lan, trong một cuộc xung đột bất ngờ do sự khiêu khích của phía Hà Lan đối với vùng Hội An. Năm 1702, chúng ta lại đánh thắng một hạm đội của thực dân Anh. Hay có thể kể đến chiến thắng Rạch Gầm – Xoài Mút năm 1785 do Nguyễn Huệ trực tiếp chỉ huy thủy quân Tây Sơn đã phá tan 2 vạn thủy quân Xiêm cùng 300 chiến thuyền.

Trong thời kỳ chống thực dân Pháp xâm lược, đặc biệt khi Cách mạng tháng Tám thành công, từ năm 1948 đến năm 1954, chúng ta đã vận chuyển được gần 3.000 tấn hàng hóa các loại cho các tỉnh cực Nam Trung Bộ và miền Đông Nam Bộ thông qua đường sông suối, góp phần làm nên thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ, kết thúc cuộc kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp.

Đến thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (thế kỷ XX), dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân ta đã liên tiếp giành được những thắng lợi to lớn cả trên đất liền và trên sông biển, tiến tới giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Có thể thấy những chiến công ấy đã bồi đắp nên những giá trị văn hóa, những kinh nghiệm chiến tranh quân sự trên biển và bờ biển của người Việt, trở thành một truyền thống quý báu trong công cuộc xây dựng bảo vệ đất nước. Ở thời điểm nào cũng vậy, bảo vệ biển, đảo luôn luôn là yêu cầu cấp thiết trong mọi hoàn cảnh, mọi thời điểm, đặc biệt là khi đất nước đang đổi mới và hội nhập quốc tế. Nội dung này đã được nhấn mạnh trong chức năng, nhiệm vụ của lực lượng Cảnh sát biển quy định trong Luật Cảnh sát biển Việt Nam 2018.

Theo đó, “Bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia trong vùng biển Việt Nam là hoạt động phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh và xử lý cơ quan, tổ chức, cá nhân vi phạm quy định của pháp luật về chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia trong vùng biển của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.

“Cảnh sát biển Việt Nam là lực lượng vũ trang nhân dân, lực lượng chuyên trách của Nhà nước, làm nòng cốt thực thi pháp luật và bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn trên biển… Có chức năng tham mưu cho Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ban hành theo thẩm quyền hoặc đề xuất với Đảng, Nhà nước về chính sách, pháp luật bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn trên biển; bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia trong vùng biển Việt Nam; quản lý về an ninh, trật tự, an toàn và bảo đảm việc chấp hành pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, thỏa thuận quốc tế theo thẩm quyền”.

Bên cạnh những đặc trưng nổi bật của truyền thống đánh giặc, bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc, văn hóa biển, đảo nước ta còn được thể hiện trong mối quan hệ gắn kết giữa con người môi trường biển. Sống trong một vùng sinh thái đặc biệt về địa lý kinh tế, chính trị và văn hóa, dọc quá trình hình thành và phát triển đất nước, con người Việt Nam từ xa xưa đã có sự gắn kết chặt chẽ với biển. Văn hóa biển Việt Nam đã được hình thành từ ngàn năm khi người dân cật lực mưu sinh, cuộc sống gắn với biển và mang trong mình niềm tự hào lớn lao về biển.

Trên thực tế, chúng ta đã tìm thấy nhiều bằng chứng là các di chỉ khảo cổ của các nền văn hóa như Hạ Long, Soi Nhụ, Sa Huỳnh... chứng minh rằng lớp cư dân đầu tiên sống trên các vùng ven biển ở Việt Nam đã là những người biết gắn bó, lao động, khai thác tài nguyên biển. Cùng với đó là các di tích khảo cổ học còn lại ở các vùng ven biển cũng cho thấy khả năng to lớn của người Việt trong khai thác tài nguyên biển, đánh cá, làm muối, nuôi trồng, chế biến hải sản, giao thương qua biển với nước ngoài qua cảng biển lớn được sử sách ghi lại, điển hình như cảng Vân Đồn được xây dựng từ năm 1149.

Góp phần phát huy mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa con người và biển, đảo; giữ gìn an ninh, phòng chống các hành vi buôn lậu, vận chuyển, mua bán trái phép hàng hóa, vũ khí, chất nổ, chất ma túy và các hành vi vi phạm pháp luật khác trên biển; bảo vệ tài nguyên, môi trường biển, đảo quê hương, điều 8 Luật Cảnh sát biển Việt Nam đã quy định một trong những nhiệm vụ của Cảnh sát biển Việt Nam là:

“.. bảo vệ tài nguyên, môi trường biển; bảo vệ tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân trên biển.

Đấu tranh phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật, giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn trên biển; tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn và tham gia khắc phục sự cố môi trường biển”.


Không chỉ thể hiện những đặc trưng riêng, cơ bản của văn hóa biển, đảo Việt Nam, Luật Cảnh sát biển còn thể hiện truyền thống đoàn kết, tương trợ của dân tộc Việt nhằm huy động sức mạnh phối hợp, gắn kết của lực lượng Cảnh sát biển với công dân; cơ quan, tổ chức, lực lượng chức năng trong và ngoài nước trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Cảnh sát biển Việt Nam.

Đối với nhân dân, trước hết là ngư dân hoạt động trên biển, mối quan hệ đó được thể hiện rất rõ thông qua hoạt động tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật, động viên, giúp đỡ ngư dân, cứu hộ cứu nạn,..

Đối với các cơ quan, tổ chức, lực lượng chức năng trong nước, nội dung phối hợp đã được quy định trong điều 24 của Luật Cảnh sát biển Việt Nam bao gồm:

1. Trao đổi thông tin, tài liệu; đề xuất xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.
2. Bảo vệ an ninh quốc gia, chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên biển.
3. Bảo vệ tài nguyên, môi trường biển; bảo vệ tài sản của Nhà nước, tổ chức, cá nhân; tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của cá nhân hoạt động hợp pháp trên biển.
4. Tuần tra, kiểm tra, kiểm soát giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn trên biển; phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh chống tội phạm, vi phạm pháp luật; đấu tranh, phòng, chống cướp biển, cướp có vũ trang chống lại tàu thuyền.
5. Phòng, chống thiên tai; tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn và ứng phó, khắc phục sự cố môi trường biển.
6. Đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát biển Việt Nam; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho Nhân dân.
7. Thực hiện hợp tác quốc tế
8. Thực hiện các hoạt động phối hợp khác có liên quan”
(Điều 24, Luật Cảnh sát biển Việt Nam 2018)


Cùng với đó, điểm 1, điều 16 của Luật cũng ghi rõ: “Trong trường hợp khẩn cấp để bắt giữ người, tàu thuyền và phương tiện vi phạm pháp luật; tìm kiếm cứu nạn; ứng phó, khắc phục sự cố môi trường biển nghiêm trọng, cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát biển Việt Nam được huy động người, tàu thuyền và phương tiện, thiết bị kỹ thuật dân sự của cơ quan, tổ chức, công dân Việt Nam.”

Bên cạnh nội dung về phát huy nguồn sức mạnh nội lực, Luật Cảnh sát biển Việt Nam cũng quy định những nội dung cụ thể nhằm huy động sự ủng hộ, giúp đỡ của cộng đồng quốc tế, bảo đảm thực thi pháp luật trên biển, phù hợp với pháp luật Việt Nam và tương thích với điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, bao gồm:

1. Phòng, chống cướp biển, cướp có vũ trang chống lại tàu thuyền
2. Phòng, chống tội phạm ma túy, mua bán người, mua bán vũ khí trái phép, khủng bố, hoạt động xuất cảnh, nhập cảnh bất hợp pháp, buôn bán, vận chuyển hàng hóa trái phép qua biên giới, khai thác hải sản bất hợp pháp và tội phạm, vi phạm pháp luật khác trên biển trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của Cảnh sát biển Việt Nam.
3. Phòng, chống ô nhiễm và phòng ngừa, ứng phó, khắc phục sự cố môi trường biển; kiểm soát bảo tồn các nguồn tài nguyên biển; bảo vệ đa dạng sinh học và hệ sinh thái biển; phòng, chống, cảnh báo thiên tai; hỗ trợ nhân đạo, ứng phó thảm họa; tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn trên biển trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của Cảnh sát biển Việt Nam.
4. Đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ, trao đổi kinh nghiệm, chuyển giao trang bị, khoa học và công nghệ để tăng cường năng lực của Cảnh sát biển Việt Nam.
5. Các nội dung hợp tác quốc tế khác theo quy định của pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và thỏa thuận 
(Điều 20, Luật Cảnh sát biển Việt Nam 2018)


Nội dung đó có thể được thực hiện thông qua hình thức là các cuộc trao đổi thông tin về an ninh, trật tự, an toàn trên biển; các buổi hội nghị, hội thảo quốc tế; các thỏa thuận quốc tế; các buổi phối hợp tuần tra, kiểm tra, kiểm soát; diễn tập và các hình thức hợp tác khác.

Bên cạnh việc phát huy những giá trị văn hóa truyền thống, Luật Cảnh sát biển Việt Nam còn bám sát những yêu cầu mới trong quá trình hội nhập và phát triển, thể hiện rõ trong công tác xây dựng lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam “Cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”. Người chiến sĩ Cảnh sát biển không chỉ cần có phẩm chất, đạo đức xứng đáng với truyền thống anh hùng mà còn cần có cả trình độ chuyên môn nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ công tác, nắm vững quy định của pháp luật Việt Nam và quốc tế.

Trong công cuộc xây dựng và đổi mới đất nước cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế, theo mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, đặc biệt hướng tới mục tiêu "Phát triển kinh tế biển theo một hướng chiến lược toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm, sớm đưa nước ta trở thành một quốc gia mạnh về kinh tế biển trong khu vực, gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh và hợp tác quốc tế"[1] chúng ta càng cần tiếp tục phát huy những đặc điểm văn hóa truyền thống còn phù hợp, đồng thời nâng cao hơn nữa tính pháp lý và hiệu quả thực hiện Luật Cảnh sát biển Việt Nam trong thời gian tới.

Để làm được điều đó, trước hết chúng ta cần tiếp tục bám sát tình hình trong nước và quốc tế, kịp thời bổ sung, hoàn thiện nội dung các văn bản pháp luật, văn bản hướng dẫn thi thành Luật, các chính sách chăm sóc, phát triển con người, phát triển kinh tế - xã hội vùng biển đảo, đảm bảo phù hợp với văn hóa dân tộc, với đường lối, chủ trương của Đảng, quy định pháp luật chung của Nhà nước và những điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là thành viên cũng như đáp ứng được những yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Hai là nâng cao công tác quản lý, xây dựng cơ chế điều hành hợp lý, khoa học giúp phát huy mọi nguồn lực của đất nước nói chung và của các vùng biển và hải đảo nói riêng cho viêc thực hiện một tầm nhìn mới về phát triển biển. Đảm bảo phát huy đầy đủ vị trí, chức năng của các cơ quan Đảng, chính quyền, đoàn thể, chính trị xã hội, các tổ chức xã hội, cộng đồng và gia đình vào việc thực hiện các quy định pháp luật, các chính sách kinh tế xã hội văn hóa tại vùng biển đảo.

Ba là chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát biển có phẩm chất cách mạng, đạo đức, lối sống trong sáng, lành mạnh, có sức khỏe, trí tuệ và trình độ chuyên môn đảm bảo hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Theo đó, trước tiên cần tập trung bồi dưỡng cho lãnh đạo, chỉ huy các cấp năng lực quán triệt và tổ chức thực hiện đường lối, nhiệm vụ chính trị, quân sự, quốc phòng của Đảng, chủ trương xây dựng Quân đội, Cảnh sát biển Việt Nam trong tình hình mới; Thường xuyên giáo dục phẩm chất đạo đức cách mạng, lối sống trong sạch, ý thức tổ chức kỷ luật, nâng cao lòng yêu nước, ý chí quyết tâm khắc phục mọi khó khăn gian khổ.  Trong giáo dục chính trị, tư tưởng, lấy thuyết phục, khơi dậy tinh thần yêu biển, yêu tàu, niềm tự hào được mang trên mình quân phục Cảnh sát biển Việt Nam làm sợi chỉ đỏ. Cùng với đó, phải nâng cao chất lượng huấn luyện, trình độ chuyên môn nghiệp vụ và khả năng sẵn sàng chiến đấu trên cơ sở nắm vững phương châm huấn luyện: “cơ bản, thiết thực, vững chắc, an toàn, tiết kiệm”.

Bốn là chú trọng công tác giáo dục nâng cao nhận thức của toàn xã hội về vị trí vai trò của của các vùng biển đảo đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đối với các bộ, ngành có liên quan và cấp ủy, chính quyền các địa phương, nhất là 28 tỉnh, thành phố ven biển, cần đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến, quán triệt các nội dung cơ bản của luật cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là ngư dân để họ nắm vững, hiểu rõ, sẵn sàng chấp hành việc huy động nhân lực, phương tiện nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Cảnh sát biển khi thực tiễn, yêu cầu nhiệm vụ trên biển đặt ra. Đồng thời, tăng cường công tác tuyên truyền, giới thiệu luật trên các phương tiện thông tin đại chúng nhằm góp phần lan tỏa tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, xây dựng ý thức trách nhiệm cho người dân đấu tranh với các hiện tượng sai trái, tiêu cực trên lãnh thổ và vùng biển, đảo của dân tộc.

Năm là tăng cường sự phối hợp, hợp tác giữa lực lượng Cảnh sát biên Việt Nam với các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài trong việc đấu tranh phòng, chống vi phạm, tội phạm trên biển, thực hiện quyền truy đuổi, tiến hành tuần tra chung, diễn tập an ninh hàng hải, chống cướp biển, cướp có vũ trang chống lại tàu thuyền, thực hiện khắc phục sự cố môi trường biển, tìm kiếm cứu nan trên biển, v.v. Đặc biệt là mở rộng hợp tác quốc tế với những quốc gia có lực lượng thực thi pháp luật trên biển mạnh, có kinh nghiệm tổ chức, xây dựng lực lượng, quan hệ đối tác chiến lược với Việt Nam. Thông qua đó, nâng cao năng lực thực thi pháp luật, tranh thủ sự hỗ trợ, ủng hộ về trang bị, phương tiện, đào tạo. Góp phần thiết thực hỗ trợ hoạt động ngoại giao của Nhà nước, đối ngoại quốc phòng trong giải quyết những vấn đề quốc tế liên quan đến chủ quyền, an ninh biển, đảo.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đặng Vũ Cảnh Linh (2015) Biển- với tính chất là thành lũy quốc phòng của người Việt (Kỳ 2), tadri.org
2. Nguyễn Văn Sơn (2019)  Luật Cảnh sát biển Việt Nam - bước phát triển mới về cơ sở pháp lý thực thi pháp luật trên biển, Tạp chí Quốc phòng Toàn dân.
3. Đỗ Khánh Tặng (2016) Sức mạnh văn hóa tinh thần của Cảnh sát biển Việt Nam, canhsatbien.vn
4. Nguyễn Thị Thanh Thúy (2020) Phát huy giá trị văn hóa biển đảo ở Việt Nam, Tạp chí Kinh tế và Đồ uống
5. Địa lý Việt Nam – Wikipedia tiếng Việt
[1] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. NHB Chính trị quốc gia , Hà Nội, 2006

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây