trongdong
text logo

LÝ HẠ - MỘT QUÃNG NGHỊCH ĐỘC ĐÁO GIỮA BẢN NHẠC ĐƯỜNG THI

Tác giả bài viết: HÀN VŨ LINH

Thứ tư - 28/04/2021 07:26
Người yêu mến thơ Đường xưa nay thường gán những cái danh xưng tụng những tên tuổi vĩ đại như “thi Tiên” Lý Bạch, “thi Thánh” Đỗ Phủ, “thi Phật” Vương Duy nhưng dù khiêm tốn và giản dị nhất thì cũng không quên nhắc đến thiên tài Lý Hạ. Lý Hạ được người đời gán cho biệt danh là “thi Quỷ” với sự góp mặt hàng trăm bài thơ quái đản mang đầy chất uỷ mị, yêu tà. Có thể nói ở Lý Hạ là sự tự đã phá vỡ những chuẩn mực của thi ca đương thời để tạo một mình một lối đi riêng và tạo dựng một phong cách sáng tác độc đáo, không giống bất kỳ ai góp mặt vào dòng chảy mang thương hiệu Đường thi. 
Hình minh họa Lý Hạ trong cuốn sách Vãn tiếu Đường trúc trang hoạch truyện năm 1743.
Hình minh họa Lý Hạ trong cuốn sách Vãn tiếu Đường trúc trang hoạch truyện năm 1743.
Nếu Lý Bạch phiêu dật, hùng tráng, chữ nghĩa lên tận trời cao, Đỗ Phủ nhuốm bụi dân dã, khóc thương cho cuộc đời và những thân phận, Vương Duy mang sắc thái thanh cao, thuần khiết có dáng dấp thi Thiền, thì đối với Lý Hạ, ông lại có một phương châm sáng tác kỳ lạ là  “Ngữ bất kinh nhân tử bất hưu” (Lời thơ đọc lên không làm người thưởng thức kinh hãi thì chết cũng không nguôi). Và quả nhiên với những bài thơ đậm chất kỳ quái, Lý Hạ đã làm kinh sợ nhiều thế hệ yêu thơ ca, không chỉ bởi ngôn từ ma mị, bố cục phá cách trong thế giới tâm linh huyễn hoặc, huyền bí mà bên cạnh đó, người đọc vẫn nhận thấy thơ ông còn là góc nhìn hiện thực lạ lẫm, khác thường về những suy tư, khổ đau và dằn vặt về thân phận con người và thi nhân trong thời đại. 
Lý Hạ tự là Trường Cát, người ở Phúc Xương, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc thuộc dòng tôn thất nhà Đường, sinh vào khoảng năm 789 và mất năm 816, khi mới 27 tuổi. Di cảo của Lý Hạ còn để lại là một tập thơ gồm 4 tập do người bạn là Thẩm Minh sưu tầm và Đỗ Mục đề tựa năm Thái Hoà thứ 5 đời Đường Văn Tông.
lyha2
Cuốn Lý Hạ ca thi thiên.
  
 Mặc dù thời gian tại thế thật ngắn ngủi, nhưng thi sĩ tài hoa Lý Hạ lại có một số phận kỳ lạ như chính những bài thơ kỳ lạ của ông viết, có cảm giác là viết bằng tinh huyết của chính mình. Theo tiểu truyện Lý Hạ, ông là con người có tướng mạo cổ quái, ham đọc sách đến mức quên ăn, quên ngủ, tính tình kiêu ngạo, coi trời bằng vung hay uống rượu và ưa thích khổ ngâm. Ngay từ khi lên 7 tuổi, ông đã nổi tiếng là thần đồng với những câu thơ làm kinh động giới văn sĩ đương thời. Tương truyền hai nhà thơ nổi tiếng là Hàn Dũ và Hoàng Phủ Thực nghe tài năng xuất khẩu thành thơ của cậu bé Lý Hạ tìm đến tận nhà xem mặt. Lý Hạ bèn đứng ngay trước cửa nhà viết bài Cao Hiên Quá làm hai nhà thơ thành danh đã lâu phải ngỡ ngàng với hai câu : 
“Điện tiền tác phú thanh ma không
Bút bổ tạo hóa thiên vô công”
(Trước nhà làm thơ trình thanh âm chạm cả vào bầu trời 
Ngọn bút bổ sung chỗ khiếm khuyết của tạo  hóa, không tốn công sức ) 
Câu thơ làm người đọc liên tưởng ngay đến một Lý Bạch đầy tài năng và cao ngạo với những lần ông làm rung chuyển tạo hóa bằng chính tài năng và bút lực của mình :
“Dạ tĩnh bất kham đề tuyệt cú
 Khủng kinh tinh đẩu lạc giang hàn” 
(Đêm vắng không thể đề một câu thơ tuyệt cú
Vì sợ ngôi sao kia sẽ kinh hãi mà rơi xuống dòng sông lạnh) 
Văn tài, khí phách bao trùm trời đất ấy chỉ có ở những bậc thánh nhân kỳ tài và phải chăng giữa họ mới có sự trùng lặp trong những miền giao cảm tuyệt vời mà người bình thường không thể thấy được. Nó cũng giống như quãng nghịch trong những bản nhạc mà không phải thính giả nào cũng nghe và cảm nhận được sự nhảy nhót của những nốt nhạc không theo quy tắc và chuẩn mực.
Giống như Lý Bạch, ngay từ nhỏ Lý Hạ đã sớm bộc lộ tài năng thiên bẩm, những tố chất của nhà thơ lớn và một ý chí hiên ngang quật khởi của kẻ sĩ theo chuẩn mực của xã hội phong kiến. Ông cũng từng ôm mộng làm quan, có cơ hội đem tài năng ra cống hiến giúp dân, giúp đời. Những tâm tình và khát vọng mà ông gửi gắm trong thời kỳ đầu sáng tác là một số bài thơ trong sáng, biểu hiện tấm lòng trung quân, ái quốc, thương dân. Như trong bài Nhạn môn thái thú hành, Lý Hạ mong muốn được cầm gươm lên ngựa giết giặc Hung Nô như những người hùng, người lính can trường tung hoành, xông pha nơi trận mạc: 
“Báo quân Hoàng kim đài thượng ý
Đề huề Ngọc Long vi quân tử”
(Trên đài hoàng kim ý chí vùng lên báo ơn vua
Tay cầm kiếm Ngọc long xin vì vua mà chết)
Hay như trong bài Nam viên (kỳ ngũ), ông viết : 
Nam nhi hà bất đới Ngô câu
Thu thủ quan san ngũ thập châu
Nhược cá thư sinh vạn hộ hầu?
(Nam nhi sao chẳng mang đao báu
 Để thu về năm mươi châu quận
  Giống như thư sinh được thăng chức Vạn hộ hầu) 
Với một chí hướng và hoài bão lớn lao, “cậu bé” Lý Hạ ngày đêm dốc mình khổ học làm bạn với sách đèn. Tuy nhiên, mơ ước chính đáng ấy không tồn tại được lâu bởi ông đã sớm bộc lộ nỗi thất vọng trên chính con đường chông gai, hoạn lộ của mình. 
Trong thời gian ở nhà Hàn Dũ chờ đợi khoa thi, tiếp xúc với đủ các loại người tầng lớp những người lao động đến trí thức, văn nhân, quan lại, Lý Hạ ngày càng nhận ra bản chất thối nát của tầng lớp thống trị đương thời. Với ông quan trường chỉ là chỗ cho những kẻ hư danh, ăn không ngồi rồi, vô tích sự, chỉ là chốn nhiễu nhương, mua quan bán tước, ghen ghét, đố kị, tìm cách hãm hại người tài. Lý Hạ ngày càng trở nên chán ghét thời cuộc. Tâm trạng bất đắc chí trong nhà thơ lâu dần trở thành nỗi hận lòng dai dẳng của một tài năng sinh bất phùng thời:  
“Ngã đương nhị thập bất đắc ý
Nhất tâm sầu tạ như khô lan
Y như phi thuần mã như cẩu
Lâm kỳ kích kiếm sinh đồng hống
… Hồ trung hóa thiên văn bất khai”
(Ta hai mươi tuổi mà chưa đắc ý 
Tấm lòng sầu héo tựa lan khô 
Áo quần rối như lông chim thuần, ngựa gầy như con chó
Lên núi Kỳ múa kiếm tiếng vang như tiếng rống
… Trong cơn say cất tiếng hỏi trời nhưng mây chẳng mở ra”)
(Khai sầu ca ) 
Ông trời đã không thể nghe được tiếng kêu than, bất đắc chí của một thiên tài như Lý Hạ bởi thời đại ông sống là khoảng thời gian triều đại phong kiến nhà Đường bắt đầu suy thoái và mục nát. Sau loạn An Sử, các vị vua từ đời Đường Huyền Tông đến Đường Hiến Tông đều ham thuật thần tiên, bỏ bê chính sự, tin dùng hoạn quan và hưởng lạc. Bên trong thì tham quan hoành hành, sách nhiễu dân chúng, bên ngoài thì các thế lực quý tộc địa phương tranh nhau cát cứ, nổi loạn, điển hình là các bộ tộc Thổ Phồn, Hồi Hột cũng thừa cơ xâm lấn, chiếm được nhiều vùng lãnh thổ của Trung Quốc.
 Chiến tranh liên miên, dân chúng đói khổ, cơ cực, càng đi đây đi đó, càng học rộng, biết nhiều, Lý Hạ càng thấy một xã hội hiện thực khác xa với một xã hội mà ông mơ ước. Thay vì tư tưởng trung quân, Lý Hạ chuyển sang bày tỏ thái độ bất bình sâu sắc, không ngớt lời mỉa mai chỉ trích vua chúa, quan lại. Trong bài Khổ trú đoản, mượn hình ảnh ma mị, quỷ quái, ông ngầm đả kích Đường Hiến Tông ham thuật thần tiên trường sinh bất tử thì cuối cũng cũng sẽ chỉ như những kẻ bạo chúa, ngụy quân tử như Tần Thủy Hoàng và Hán Vũ Đế :
“Lưu Triệt Mậu Lăng đa trệ cốt
Doanh Chính tử quan phí bảo ngư”
(Lưu Triệt nơi Mậu Lăng là đám xương mục
Quan tài của Doanh Chính lẫn trong mùi cá thối)
Ở một số bài thơ khác, Lý Hạ biểu hiện tấm lòng đồng cảm sâu sắc với nỗi thống khổ của nhân dân. Được chứng kiến cảnh những người dân khổ sở vì phu phen lao dịch, nhiều người chết vì mò tìm châu ngọc cho vua chúa, Lý Hạ đã thẳng thắn viết về cuộc sống và tâm sự của họ trong những lời thơ đầy xót thương và bi cảm cho thân phận con người và trong một xã hội nhiễu nhương, loạn lạc, khi các giá trị trở thành những tấm gương mờ phủ bụi, thì đương nhiên bản thân những người có tài năng như Lý Hạ đều khó có cơ hội được sử dụng, trọng dụng. Như nhiều trí sĩ tâm huyết, Lý Hạ cuối cùng cũng bị những kẻ gian hãm hại, từ bỏ con đường khoa cử, chốn quan trường - cái mà có lẽ không bao giờ ông chạm tay được chỉ vì lý do đơn giản và bất ngờ nhất: Đó là tên bố ông là Tấn Túc, phạm húy đồng âm với danh hiệu tiến sĩ. 
Trở về là những tâm sự nặng nề trong thới đời đen bạc, ghen ghét kẻ tài hoa, Lý Hạ ngỡ mình như con chim lạc đạn, con lừa ngơ ngác trên từng bước đi chậm chạp và hình bóng của kẻ độc hành, độc lai, độc vãng cả về không gian, thời gian trên dòng nước trôi vô định nơi quan ải. Ông dùng ngũ ngôn, cổ phong theo phong cách kinh điển của Nhạc phủ thời Hán, diễn tả tâm trạng mình như một khúc nhạc bi thương soi trên bóng mình:  
“... Tuyết hạ quế hoa hy
Đề điểu bị đàn quy
Quan thủy thừa lư ảnh
Tần phong mạo đới thủy
Nhập hương thi vạn lý
Vô ấn tự khảm bi...”
(Dưới tuyết hoa quế đã thưa thớt
Con chim bị đạn cất tiếng kêu khi bay về
Dòng sông ngoài cửa ải soi bóng con lừa
Ngọn gió xứ Tần thổi đến làm mũ đội trên đầu rũ xuống
Quay về làng cũ khi đã đi thi xa vạn dặm
Không có ấn phong (thi đỗ) tự mình thấy bi lụy...)                                                                                                                  
 (Xuất thành) 
Bất lực và thương xót cho tài năng bị dập vùi, Lý Hạ đã từng cười nhạo, mỉa mai chính mình, ông như một kẻ lênh đênh trong cuộc đời mà chẳng thể tìm được một hướng đi đúng. Tâm trạng buồn thương, bi hận đeo đẳng một con người tài hoa, một thi nhân đa sầu, đa cảm. Giã từ giấc mộng lớn của cuộc đời mình, Lý Hạ tìm đến với giấc mộng thi ca như trút cạn bầu tâm sự. Những đêm khuya vắng lặng, khi tỉnh, khi mê, vò rượu vùi lấp thời gian trong những câu ca khổ ngâm, ông dường như muốn quên đi tất cả những tâm sự bế tắc không thể bày tỏ, chàng trai Lý Hạ đã mơ tưởng mình là hiện thân của ông già Khuất Nguyên cảm thán, ai oán với từng âm điệu trong bài ca Sở từ : 
“Yết yết học Sở ngâm
Bạch cốt thương u tố
Thu tư bạch phát sinh
Mộc diệp đề phong vũ” 
(Thổn thức học cách ngâm nước Sở
Xương cốt bệnh hoạn đau khổ giữa vùng sáng, tối
Nghĩ đến mùa thu mà tóc bạc trắng
Như lá khô trước bão tố phong ba)
                                             (Thương tâm hành)
Số phận nghiệt ngã mà cuộc đời dành cho Khuất Nguyên đã trở thành nỗi ám ảnh dai dẳng đối với Lý Hạ. Như có mối đồng cảm kỳ lạ đối với Khuất Nguyên: Một tài năng xuất chúng, một thân phận bi ai, một người nghệ sĩ tự đày đoạ mình trong thế giới trần tục, Lý Hạ như những già đi cùng văn chương và những tiếng khóc than lạc lõng trong thời thế:
“Tầm chương trích cú lão điêu trùng
Hiểu nguyệt đương liêm quải ngọc cung
Bất kiến thiên niên Liêu hải thượng
Văn chương hà xứ khốc thu phong”
(Tầm chương trích cú như chạm khắc tỉ mỉ từng con sâu
Mặt trăng buổi sớm như cánh cung bằng ngọc treo trước rèm
Chẳng thấy từng năm trên mặt biển Liêu Đông
Văn chương khóc ngọn gió thu ở nơi nào)
(Nam Viên - Kỳ lục) 
Nếu như tìm đến với văn chương trong sự xa lánh một xã hội hiện thực đầy rẫy bất công, với những điều phù phiếm và giả tạo, với những khuôn mẫu đã trở nên sáo mòn, thì trái lại nơi tận cùng của trái tim và tâm hồn người nghệ sĩ lang thang, cô độc, Lý Hạ như nghe được tiếng khóc không chỉ của chính mình mà còn của cả thời đại mà ông đang sống. Ông đã vươn tới cảnh giới cao nhất của sự giao cảm với trời đất, con người và cuộc đời. Thế giới hiện thực khép lại để rồi mở ra trong Lý Hạ một thế giới quỷ ma quái đản và dường như tất cả cái thế giới quỷ ma quái đản đó lại biểu hiện bằng chính là những nỗi đau của con người. 
Nhiều bài thơ của Lý Hạ đã trở thành tiếng khóc nức nở của những con người hóa thân thành ma quỷ và ma quỷ biến hình thành những gì diễn ra vây quanh con người. Đọc thơ ông người đọc kinh hãi vì những hình ảnh của những quỷ núi, quỷ biển, quỷ đá, quỷ gỗ, đèn quỷ, mưa quỷ và cả hình ảnh quỷ mẹ khóc quỷ con… Những dãy núi, dòng sông, những bông hoa, ngọn cỏ, những con thuyền độc mộc lênh đênh trong cuộc đời đều có thể trở thành nơi ma quỷ trú ngụ, đều có thể biến thành một cõi dâu biển mịt mù, âm hoang, như ma trận tâm hồn không lối thoát. 
Có những đêm mưa, Lý Hạ đã nghe tiếng quỷ ngâm nga đọc thơ, ông cũng ngâm nga đọc thơ với quỷ. Sự giao cảm kỳ lạ của những âm thanh ảo não, đoạn trường mà dường như lại phảng phất về những thân phận, những cuộc đời, những thiên tài bị lãng quên như quỷ ma giữa dòng đời băng lạnh và nghiệt ngã. Lý Hạ không biết quỷ là thi nhân hay chính một phần của ông đang hóa thành một con quỷ phiền muộn, đau thương trôi mối hận lòng trên mênh mang thiên cổ:   
“Thùy khan thanh giản nhất biên thư
Bấn khiển hoa trùng phấn không đố
...Vũ lãnh hương hồn điếu thư khách
Thu phần quỷ xướng bão gia thi
Hãn huyết thiên niên thổ trung bích”
(Có ai thấy cuốn sách chẳng có người đọc
Mối mọt ăn nát thành bột
Mưa lạnh mảnh hồn thơm điếu người làm ra sách
Trên nấm mộ mùa thu, tiếng quỷ ngâm nga thơ bão gia
Máu hận ngàn năm ngấm vào đất và biến thành ngọc đá)
(Thu lai ) 
Trong hoàn cảnh khác, Lý Hạ lại như nghe thấy tiếng khóc than của những con người lưu lạc, bơ vơ, tiếng khóc của những vương triều, những thời đại huy hoàng, oanh liệt đang trở nên suy tàn và sụp đổ. Ông hóa thân trong tâm sự của những pho tượng đồng nơi đền thờ vua Hán đã từng bị Tào Phi cướp đi. Những lời thơ ông viết thật cảm động lòng người : 
“Ức quân thanh lệ như duyên thủy
Suy lan tống khách Hàm Dương đạo
Thiên nhược hữu tình thiên nhược lão
Huề bàn độc xuất nguyệt hoang lương”
 (Nhớ vua giọt lệ nhỏ xuống ướt đẫm như nước chảy
Trên đường Hàm dương khóm lan gầy tiễn khách
Nếu trời có tình ắt trời cũng phải già đi vì thương xót cuộc chia ly
Tượng đồng ôm mâm vàng đi lẻ loi một mình dưới ánh trăng hoang)
(Kim đồng tiên nhân từ Hán ca) 
Hòa mình vào phong cách sáng tác kỳ dị và quái đản nhưng vẫn mang bản chất của một xã hội hiện thực sống động, tâm trạng luôn đau khổ, dằn vặt nhưng vẫn chan chứa những tình cảm lãng mạn, nhân văn, đó là khối mâu thuẫn lớn nhưng cũng là tâm hồn đích thực của người nghệ sĩ Lý Hạ. Đi giữa một thế giới âm u, quái đản bằng một trái tim khát khao tìm kiếm sự đồng cảm, nhiều bài thơ Lý Hạ được viết từ những rung cảm tận cùng của trái tim người nghệ sĩ. Lý Hạ đã đến với thi ca, đến với tiếng đàn, đó là những người bạn, người đồng hành duy nhất cùng ông. Lý Hạ trở thành một trong những nhà thơ viết hay nhất về tiếng đàn - tiếng đàn lạc lõng, sầu muộn trong nhân thế, tuy kỳ lạ quái dị nhưng nó vẫn phản ánh một thế giới tao nhã và sâu đậm tình người ẩn chứa nơi ông :   
“ Côn sơn ngọc toái phượng hoàng khiếu
Phù dung khấp lộ hương lan tiếu
Nhị thập môn tiền dung lãnh quang
... Lão ngư khiêu ba sấu giao vũ...”
 (Tiếng đàn nghe như ngọc vỡ trên núi Côn sơn, lãnh lót như tiếng chim phượng hoàng hót
Tiếng đàn buồn tênh như hoa phù du đang khóc sương mai và e ấp như cánh lan thơm vừa hé nụ
Tiếng đàn làm tan đi ánh sáng lạnh lẽo trước hai mươi cổng thành (Trường An)
Tiếng đàn làm cho con cá già phải lướt trên sóng và làm con giao long gầy phải nhảy múa)                                                                                               
(Lý Bằng không hầu dẫn)
Dường như trong sự nghiệp sáng tác của mình không chỉ viết những vần thơ lạ lùng đối với người đời mà ngay trong tâm hồn, Lý Hạ cũng có sự đồng cảm thật lạ lùng khi ông viết về phụ nữ. Không có tài liệu nào nói về hồng nhan tri kỷ của Lý Hạ mà người phụ nữ được ông nhắc đến nhiều nhất là Tô Tiểu Tiểu, một danh kỹ tài hoa thời Nam Tề sống trước ông mấy trăm năm. Xót thương cho người danh kỹ tài hoa, bạc phận, Lý Hạ mong được vượt qua nỗi ngăn cách thời đại để kết mối đồng tâm cùng nàng, dù nàng chỉ còn là nắm xương tàn bên nấm mộ hoang vu: 
“U lan lộ như đề nhãn
Vô vật kết đồng tâm
... Phong vi thưởng, thủy như bội
Du bích xa, tịch tương đãi”
(Sương như cánh lan buồn trông như giọt lệ trong mắt
Không có gì để kết mối đồng tâm
…Gió là quần áo, nước là vật trang sức
Chiếc xe Du bích hẹn đến tối đợi nhau) 
(Tô Tiểu Tiểu mộ) 
Trong bài Thất Tịch ông còn bày tỏ tâm trạng tương tư, thương nhớ Tô Tiểu Tiểu như người hồng nhan tri kỷ của cuộc đời mình. Những lời thơ chan chứa tình cảm, yêu thương, dù đó là một bài thơ tình gửi vào cõi vô vọng: 
 “Hoa nhập bộc y lâu
Thiên thượng phân kim kính
Nhân gian vọng ngọc câu
Tiền Đường Tô tiểu tiểu
Cánh trị nhất niên thu”
(Hoa rơi trên lầu phơi áo
Trên cao vầng trăng như chiếc gương vàng phân đôi
Nhân gian ngóng vừng trăng ngọc hình lưỡi liềm
Nàng Tô tiểu tiểu ở Tiền Đường
 (Nhớ nàng thấy mùa thu dài như một năm)
(Thất Tịch)
Có thể thấy Lý Hạ là một con người kỳ lạ, dù ở bất cứ phương diện nào: Một tài năng khắc khổ, một trí thức lỡ vận, một thi nhân sầu cảm hay một người nghệ sĩ của cái đẹp. Và bản thân chỉ trong một con người thi nhân thôi, những suy nghĩ cũng thật kỳ lạ, dường như ông muốn vận vào mình tất cả những mâu thuẫn lớn của thời đại. Dù cố đắm mình trong thế giới âm u quỷ dị của tâm hồn nhưng nhiều bài thơ của Lý Hạ cho thấy ông vẫn không thể thoát ra được sự ràng buộc đối với xã hội hiện thực. Chỉ đến khi nghiêng hẳn và tìm đến với các triết lý của Lão Trang, cái thế giới âm u quái đản kia mới được giải thoát và thỏa sức tung hoành. 
Nếu như triết lý Lão Trang, sự hòa quyện giữa thiên nhiên và men rượu trong những cơn say tuý luý để tạo nên Lý Bạch với những vần thi tiên, thì  ngược lại đối với Lý Hạ, ông trở thành một con quỷ thực sự trong thế giới của thơ, rượu và phong cách phóng túng, coi trời bằng vung. Rất nhiều bài thơ ông làm khi uống rượu khiến cho người đọc kinh sợ vì những câu thơ thật lạ lùng, nhưng cũng thầm thán phục vì cách hành văn đầy biến ảo và diễm lệ của ông. Như trong bài Tương tiến tửu, Lý Hạ đã mô tả một thế giới ẩm thực bên men rượu thật ghê sợ nhưng không kém phần kỳ thú, hấp dẫn. Nó như một bức tranh tả cảnh truy hoan lạc thú với thiên nhiên bằng men rượu thi ca:     
Lưu ly chung
Hổ phách nùng
Tiểu tao tửu tích chân châu hồng
Phanh long, bào phượng ngọc chi khấp
… Xuy long địch tích đà cổ
Hạo xỉ ca, tế yêu vũ
Huống thị thanh xuân nhật tương mộ
Đào hoa loạn lạc như hồng vũ
(Chén rượu lưu ly làm bằng hổ phách
Chút rượu còn lại, rơi từng giọt có mầu hồng như ngọc châu 
Hãy xẻ thịt rồng, nướng chim phụng để mỡ trắng như ngọc trong nồi khóc than
…Hãy thổi ống địch làm bằng xương loài rồng, hãy vỗ tiếng trống làm bằng da cá sấu
Hãy nhìn những hàm răng trắng đang ca hát, hãy nhìn những chiếc eo thon đang nhảy múa
Huống gì giữa ngày xuân bóng chiều đang phủ xuống
Hoa đào rơi lả tả như một cơn mưa mầu hồng…)
(Tương tiến tửu ) 
Từ thế giới của quái dị đến trí tưởng tượng độc đáo, nơi mà Lý Hạ có thể tạm gác sầu muộn, tự xếp chỗ cho “thần biển” và “quỷ núi” cùng ngồi uống rượu, nơi mà “chư thần” và “yêu ma” có thể cùng nhảy múa ca hát, thì dường như ở ông không còn tâm trạng bất đắc chí, không còn những nỗi đơn độc trong cuộc đời. Ông vượt trên cuộc đời bằng những quan sát và cảm nhận tinh tế, những vần thơ kỳ ảo, những nét vẽ phóng khoáng về một thế giới hư hư, thực thực giúp ông vượt qua những khổ hạnh để đến với cái đẹp của tự nhiên, hòa mình vào bản chất muôn đời của tạo hóa, dù đó là một tạo hóa đầy ma mị: 
“Trượng phu khoái ý phương vi hoan
Hoắc chủy, hoắc hùng hà túc vân
Chung ẩm Bắc hải
Kỳ cứ Nam san
Ca dâm dâm
Quản tích tích
…Nhân sinh đắc ý thả như thử
Hà dụng cưỡng tri nguyên hóa tâm…”
(Bậc trượng phu khi khoái ý thì nên vui
Còn việc nấu thịt rùa hay thịt gấu thì có gì đáng nói
Rượu thì uống ở biển Bắc
Cờ thì ngồi xổm đánh ở núi Nam
Lời ca mê đắm
Tiếng sáo ngậm ngùi
…Con người đắc ý thì chỉ nên như thế
Việc gì phải cố gượng tìm hiểu tấm lòng của tạo hóa)
(Tương khuyến tửu)
Lý Hạ ngày càng dồn sức cho việc sáng tác, trí tượng tượng phong phú làm ông như người thoát tục, người cõi trên mà không cần ăn, ngủ. Tương truyền, ông luôn dắt theo một tên nô bộc, cưỡi lừa, lưng mang túi gấm đi lại giữa hai vùng Kinh, Lạc, hễ tìm được ý thơ nào hay bèn chép bỏ vào túi, đến đêm sai nữ tì mài mực chép lại. Bà mẹ thấy vậy than rằng “Thằng nhỏ này chắc phải mửa cả tim ra mới chịu thôi”. 
Chỉ với sự sáng tác Lý Hạ mới tồn tại, ông mới có thể trở nên lớn mạnh hơn so với thể chất bệnh hoạn và ốm yếu của ông thường ngày. Chỉ với những cuộc vui say, bay bổng, Lý Hạ mới trở thành Lý Hạ đích thực của thế giới thi ca mà ông mong đợi :  
“Khi chi như đoạn ngạnh
Duy lưu nhất giản thư
Kim nê Thái sơn đỉnh”
(Ta có thể vứt bỏ đi như một cành cây
  Chỉ cần tác phẩm để lại
Niêm phong trên đỉnh núi Thái sơn)
(Vịnh hoài )
Người đời xếp Lý Hạ vào dòng văn học quái đản, cũng có người cho rằng ông thuộc trường phái duy mỹ với những câu thơ diễm lệ, kỳ ảo hướng tới vẻ đẹp hoàn mỹ trong sáng tạo nghệ thuật thi ca. Không chỉ trong câu từ, trong những ý thơ đa dạng và mới mẻ, không chỉ là sự biến hoá về mặt niêm luật, Lý Hạ đã vượt qua những thông lệ gò bó thông thường trong thi ca để viết bằng nguồn rung cảm sâu sắc và phong phú từ nơi sâu thẳm tâm hồn ông. Thơ ông có thể là cổ phong, có thể là Đường luật, có thể là những bài ca mang đậm chất diễm lệ trong nhạc phủ truyền thống, mà cũng có thể là từ hay một thứ âm hưởng kỳ lạ gây cho người đọc từ bất ngờ đến kinh ngạc. Đọc thơ của ông, một nhà thơ nổi tiếng đời Nam Tống là Lục Du đã phải thốt lên: “Thơ từ của Lý Hạ giống như áo nạp bằng gấm năm màu huyền diệu, ánh sáng lóa mắt khiến người ta không dám nhìn cho kỹ” .    
Suốt một đời khổ ngâm, mê hoặc và chìm đắm trong một thế giới huyền bí với những bài thơ tuyệt vọng và đau khổ, định mệnh cũng không cho Lý Hạ được “Trường cát” như chính tên của ông, nhưng dường như Lý Hạ vẫn có thể cất lên tiếng cười sảng khoái, hồn nhiên với thiên thu hậu thế khi ông thực sự trở thành một con quỷ trong làng thi ca: 
“Bách niên lão kiêu thành mộc mị
Tiếu thanh bích họa sảo trung khỉ”
(Trăm năm cú già thành quỷ gỗ
Trong ổ tiếng cười bốc lửa xanh)
(Thần huyền khúc ) 
Bi kịch của một thời đại đã tạo nên bi kịch con người nhưng lại may mắn thay điều ấy lại cũng tạo ra những thi nhân và thiên tài, những cảm xúc bất tận của thi ca. Phải chăng hậu thế cũng nên cảm ơn thời đại, để có một Lý Hạ độc đáo, huyền ảo và quyến rũ như những vần thơ quỷ mang đậm chất NGƯỜI của ông sống mãi cùng người đọc và những người yêu mến thơ Đường xưa nay./.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây