trongdong
text logo

NHÀ GIÁO LÊ NGỌC TÒNG - NGƯỜI THẮP LỬA CHO CÂU ĐỐI VIỆT

Tác giả bài viết: BÙI NGÂN

Thứ tư - 28/04/2021 07:21
Đến làng Phú Khê, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa, tôi vô cùng ấn tượng với những câu đối được treo trước cổng làng “Phú Khê hòa khí lưu thiên cổ/ Quý phú trường trang thấu vạn niên”, hay câu “Quê cha nuôi ý chí/ Đất mẹ dưỡng tinh thần”, được treo ở mặt sau cổng, theo hướng đi từ làng ra. Một câu nói về điều kiện địa lý, lịch sử, danh tiếng của vùng đất địa linh nhân kiệt; câu kia lại nói đến việc tu dưỡng, phấn đấu của con người với ý tứ và cách đối vần, đối nghĩa thật chặt chẽ. Với người làng Phú Khê, đó vừa là niềm tự hào, vừa là lời khuyên, là động lực để tu dưỡng, hoàn thiện bản thân. Hỏi ra mới biết, hai câu đối đó được viết bởi thầy giáo Tòng, một người con của làng và cũng là hậu duệ của vị trạng nguyên nổi tiếng Lương Thế Vinh. 
PGS. TS Lê Ngọc Tòng
PGS. TS Lê Ngọc Tòng
PGS.TS Lê Ngọc Tòng sinh năm 1957 tại làng Phú Khê, tỉnh Thanh Hóa. Thừa hưởng sự thông minh hiếu học từ truyền thống gia đình, ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường thầy Tòng đã đạt thành tích nổi bật với giải ba toán học, đứng đầu khối phổ thông của tỉnh. Sau 6 năm học đại học ở nước ngoài, thầy được ở lại tiếp tục nghiên cứu và bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ Kinh tế khi chỉ mới 27 tuổi. Năm 28 tuổi, thầy về Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh tham gia giảng dạy. Đến năm 36 tuổi, thầy làm Phó trưởng bộ môn Phương pháp nghiên cứu khoa học và sau đó là Phó Vụ trưởng Vụ Quản lý khoa học của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Từ khi nghỉ hưu đến nay, thầy Tòng đảm nhiệm vị trí Hiệu trưởng trường Đại học Đông Đô. Trong quá trình nghiên cứu, hoạt động khoa học, thầy có hai công trình lớn là cuốn sách viết về thị trường ngách trong bối cảnh kinh tế Việt Nam hiện nay và đồng thời là người sáng lập môn Kinh tế học văn hóa. Môn học đó đã dược đưa vào giảng dạy tại 8 trường đại học trên cả nước.
Nói về cơ duyên đến với câu đối, thầy kể rằng: Năm 1993, tình cờ đọc được cuộc thi đối chữ đăng trên báo Thời đại với vế ra của Giáo sư Trần Văn Giàu: Mười năm khúc khích cười Đỗ Phủ. Khi đó, mặc dù chưa từng tìm hiểu về câu đối, chưa biết được niêm luật hay quy tắc đối vần, đối nghĩa nhưng thầy cũng thử tham gia đối lại câu: Ba ngày tức tưởi khóc Lê-nin. Bởi trước đó, Đỗ Phủ từng có câu Nhân sinh thất thập cổ lai hy - Người thọ 70 xưa nay hiếm, trong khi vào thời điểm ra câu đối, Giáo sư Trần Văn Giàu đã 80 tuổi rồi, có lẽ cụ Giàu đang cười Đỗ Phủ nói sai. Một bên cụ nói về sự sống của con người - một bên thầy Tòng đối lại sự sống của một chế độ. Có lẽ chính tư tưởng, ý nghĩa của vế đối đã giúp thầy giành giải của Tạp chí Thời đại. Từ đó, thầy Tòng bắt đầu tìm hiểu về câu đối. Càng tìm hiểu thầy càng say mê bởi cách gieo vần, chơi chữ cũng như ý nghĩa của câu đối cổ, câu đối dân gian.
ngoctong3
Câu đối ở cổng làng Phú Khê


Câu đối là thể văn biền ngẫu, gồm hai câu hoặc đoạn văn đi sóng đôi với nhau cân xứng cả về ý lẫn lời và luật bằng trắc; biểu hiện ý chí, quan điểm, tình cảm của tác giả trước một hiện tượng hay một sự việc nào đó trong đời sống xã hội. Cho tới nay, chưa có một chuyên khảo nào đề cập đến lịch sử hình thành câu đối, tuy nhiên, xét trên thực tế thì thể loại văn chương này đã tồn tại trong văn hóa Việt Nam từ hàng nghìn năm qua kể từ khi đất nước giành lại độc lập từ tay người Hán. Tùy thuộc vào hoàn cảnh và ý nghĩa biểu tượng mà câu đối Việt Nam có các thể loại khác nhau, như: Câu đối mừng (làm để tặng người khác trong những dịp vui mừng như: Mừng thọ, mừng thi đỗ, mừng đám cưới, mừng nhà mới); câu đối phúng (làm để viếng người đã khuất); câu đối tết; câu đối thờ; câu đối tự thuật (là những câu kể về ý chí, sự nghiệp của mình và thường dán ở những chỗ ngồi chơi); câu đối đề tặng; câu đối trào phúng, câu đối tập cú (là những câu lấy chữ sẵn ở trong sách hoặc ở tục ngữ, ca dao) hay câu đối thách... Đây là thành tố quan trọng, thường được hiện diện trên nhiều di sản văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam. Không chỉ được được ghi lại trong văn chương bác học, trên tịch cổ và sắc phong, nhiều câu đối hay còn được chạm khắc lại trên đá, trên gỗ, được trang trí trong cung vua phủ chúa, nhà thờ họ hay đình, chùa, miếu... Việc sáng tạo câu đối, tặng chữ hay thách đối là thú vui tao nhã của giới trí thức xưa, vẫn được lưu giữ cho đến ngày nay.
Tại lễ hội thơ Nguyên tiêu được tổ chức hàng năm tại Văn Miếu Quốc Tử Giám, phần thi câu đối luôn được nhiều bậc trí thức hưởng ứng, tham gia. Cách đây khoảng 10 năm, thầy Tòng cũng từng dự một cuộc thi câu đối tại Quốc Tử Giám. Trong 15 phút, tất cả người tham dự phải đối lại câu thơ của nhà thơ Nguyễn Siêu: Vạn thuở đất Thăng Long/ Bút tháp viết trời xanh vạn thuở. Do đã tìm hiểu về quy tắc đối chữ và luật bằng trắc, thầy Tòng cũng thử đưa ra vế đối như sau: Nghìn năm trời Âu Lạc/ Văn bia ghi địa chí ngàn năm, vế đối ý muốn nói đến việc khẳng định chủ quyền và lịch sử của dân tộc đã được ghi khắc trong văn bia giống như câu thơ của Lý Thường Kiệt Nam quốc sơn hà Nam đế cư/ Tiệt nhiên định phận tại thiên thư. Và trong cuộc thi đó, thầy đạt giải khuyến khích.
Nhiều người biết thầy có khả năng làm câu đối, thường nhờ thầy soạn câu đối để treo. Một gia đình có truyền thống buôn bán nổi tiếng lâu đời, giờ con cháu lại học hành giỏi giang nhờ làm câu đối, thầy đã tặng: Ông cha xưa buôn bán bốn phương vẫn giữ đạo thủy trung ân tín/ Con cháu nay học hành trăm viện luôn khắc tâm trọng đạo tôn sư.
Tại cổng nghĩa trang trong làng, thầy tặng câu: Mất vẫn còn hoa tàn kết trái/ Thác là về suối đổ thành sông. Con người mất đi, hoa đã tàn rồi nhưng vẫn để lại trái ngọt cho đời. Dòng suối chảy đi thì không còn dòng suối nữa nhưng nước của nó lại tạo ra sông, cũng như người ta mất đi rồi nhưng sự nghiệp vẫn để lại đến nhiều đời sau. 
Một làng khác xuất phát từ làng Phú Quý đến định cư ở xã Hà Vinh, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh hóa nhờ thầy làm câu đối. Do thời kỳ trước, ở đó là biển, gần đất Bỉm Sơn nên kết hợp lại thành câu: Hợp biển, khơi sông xây làng phú quý/Khai sơn lập thổ dựng bản hư vinh. Trong đó, chữ “phú quý” ở đây vừa có nghĩa là giàu có vừa có nghĩa là tên làng Phú Quý, còn chữ “vinh” là tên xã  Hà Vinh....
Mặc dù bận công tác, nhưng thầy Tòng luôn dành thời gian và coi việc làm, tặng câu đối là niềm vui. Theo thầy, một câu đối hay cần rất nhiều yếu tố từ câu từ, chính tả, ngữ pháp, vần, nghĩa... nhưng trước hết câu đối ấy phải thể hiện tư tưởng mang tính giáo dục, nhân văn, giá trị văn hóa truyền thống. Người làm câu đối không phải để khoe chữ, khoe tài mà để giáo dục cho các thế hệ những giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam, để họ tiếp tục tự hoàn thiện bản thân, cống hiến vươn lên xây dựng đất nước. Tất nhiên câu đối phải tuân thủ những niêm luật, đối vần, đối nghĩa nhưng đôi khi người ta có thể bỏ qua điều đó nếu câu đối mang tư tưởng hay.
Nói về việc học ở đời, thầy có câu đối: Đạo học ở đời mênh mông như biển cả/Công thầy khai tuệ vời vợi tựa non cao, ý muốn răn học trò rằng việc học mênh mông, những điều ta chưa biết là đại dương còn những kiến thức ta biết chỉ là giọt nước. Do đó, phải không ngừng học tập, tu dưỡng. Đồng thời cũng nhấn mạnh đến công lao dạy dỗ, khai tuệ của thầy, cô - những người luôn tâm huyết với sự nghiệp trồng người.
Đối với thầy Tòng, việc lưu truyền câu đối hiện nay là rất nhân văn, rất hiệu quả, thể hiện truyền thống của người Việt Nam. Không giống với những thể loại văn học khác, câu đối chỉ cần vài chữ nhưng lại đi vào lòng người rất nhanh, dễ nhớ, dễ thuộc, dễ hiểu. Đặc biệt là khi văn hóa đọc đang bị giảm sút, nhiều người do quá bận rộn không có thời gian để đọc sách thì việc phát triển câu đối càng cần thiết. Di sản văn hóa câu đối nước ta vô cùng phong phú, phải khai thác, đưa vào đời sống quần chúng nhân dân nhất là thế hệ trẻ hiện nay. Thầy chia sẻ: “Tôi rất sẵn sàng tham gia tất cả các hoạt động liên quan đến câu đối với tinh thần đóng góp cho đất nước, cho quê hương”./.

Tổng số điểm của bài viết là: 10 trong 2 đánh giá

Xếp hạng: 5 - 2 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây