trongdong
text logo

NHẠC TRẺ VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP - VÀI NHẬN ĐỊNH

Tác giả bài viết: Trần Thế Vĩnh

Thứ hai - 05/07/2021 07:27
Khái niệm âm nhạc vốn rộng và “Nhạc trẻ” chỉ là một trong những bộ phận cấu thành. Nội hàm của khái niệm “Nhạc trẻ” được tạm hiểu là những ca khúc có tính phổ cập giản dị, dễ hiểu. Nó tồn tại đúng với nghĩa mà phương Tây gọi là Pop (popular), tức nhạc phổ cập đại chúng.
“Fan cuồng” đón một diễn viên Hàn Quốc, tháng 9-2019
“Fan cuồng” đón một diễn viên Hàn Quốc, tháng 9-2019
Khoảng hai mươi năm trở lại đây, đời sống âm nhạc nước ta, nhất là ở các thành phố lớn, đã có những bước phát triển mạnh mẽ, phong phú về nội dung và đa dạng về thể loại. Việc giao lưu, hội nhập văn hóa với thế giới đã mang lại cho người yêu âm nhạc nhiều món ăn tinh thần với bao màu sắc khác lạ, tươi mới, trong đó có nhạc trẻ. Tuy nhiên, đời sống âm nhạc thời kỳ này đang có nhiều tồn tại, bất cập, ảnh hưởng nhất định đến gout thẩm mỹ của một bộ phận công chúng, nhất là giới trẻ. 
Tìm hiểu hiện trạng dòng nhạc trẻ nước nhà thông qua đối tượng sáng tác, biểu diễn và thưởng thức (công chúng) để thấy rõ hơn diện mạo của dòng nhạc này nhằm gợi mở hướng tiếp cận có chọn lọc hơn trong thời đại công nghệ số.
Đội ngũ sáng tác 
Theo thống kê, đến cuối năm 2020, có gần 1.500 nhạc sĩ là Hội viên chính thức của Hội Nhạc sĩ Việt Nam. Chắc chắn còn một số không nhỏ các nhạc sĩ chưa tham gia vào Hội. Đây quả là con số ấn tượng. Với lực lượng sáng tác hùng hậu thuộc nhiều lứa tuổi, hầu hết có tay nghề vững vàng, lại luôn gắn bó với cuộc sống, gắn bó với nghề nghiệp, vẫn đang không ngừng sáng tạo, và từ đó nhiều tác phẩm có giá trị thật sự đã ra đời.
Bên cạnh các nhạc sĩ lão thành, các nhạc sĩ đang ở độ chín, đã thành danh thì một lực lượng sáng tác trẻ có cá tính, có trình độ nghề nghiệp đã xuất hiện, trở thành tiếng nói mới đóng góp vào diện mạo đời sống âm nhạc. Hoạt động sáng tác đạt nhiều thành tựu, góp phần đưa đời sống âm nhạc nước nhà phát triển phong phú, sôi động, hòa nhập vào dòng chảy của âm nhạc hiện đại thế giới nhưng vẫn giữ gìn và phát huy được những đặc trưng của âm nhạc truyền thống Việt Nam.
Tuy vậy, vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế trong sáng tác ca khúc nhạc trẻ bởi sự lấn át của xu hướng thị trường, giải trí dẫn đến tình trạng thả lỏng chất lượng, nghiệp dư hóa, lệch chuẩn để lại mảng xám trong bức tranh đa sắc của âm nhạc nước nhà. Cụ thể:
- Thứ nhất, đội ngũ sáng tác thiếu hoặc yếu chuyên môn.
Tại Hội thảo Âm nhạc Việt Nam – thực trạng và giải pháp do Hội Nhạc sĩ tổ chức, phần lớn các nhạc sĩ khi được hỏi đều có chung nhận xét nhạc trẻ hiện nay thiếu vắng những ca khúc “để đời”, nhiều tác giả trẻ ngày càng dễ dãi hơn với tác phẩm của mình. Nói như PGS.TS. Nguyễn Thế Bảo là:“Do không được hướng dẫn, học hành đến nơi đến chốn, các cây bút trẻ viết bài hát theo đơn đặt hàng của các hãng băng đĩa vụ lợi, nhiều ca khúc rẻ tiền đã ra đời”. 
- Thứ hai, đề tài nghèo nàn, ca từ thiếu trau chuốt, thiếu lành mạnh 
Đề tài ca khúc nhạc trẻ hết sức nghèo nàn. Quanh đi quẩn lại chỉ là tình yêu đôi lứa ủy mị, sầu thảm, tan vỡ,… Kết quả khảo sát do Bến Thành Audio – Video phối hợp với VITEK thực hiện là một dẫn liệu rõ nét. Phân tích ca từ của 1.000 ca khúc nhạc trẻ cho kết quả: lượng bài viết về tình yêu đôi lứa chiếm 50,38%, tình tan vỡ chiếm tới 33,45%. Các đề tài ca ngợi vẻ đẹp quê hương đất nước, gia đình, tuổi học trò, thiếu nhi,… chiếm tỷ lện rất nhỏ [1]. Còn ca từ thì vô bổ, vô cảm, phản cảm theo kiểu “Tình yêu đến em không mong đợi gì/ Tình yêu đi em không hề hối tiếc”.
- Thứ ba, chạy theo cái mới nhưng thiếu tính sáng tạo
Trong quá trình hội nhập, với sự bùng nổ thông tin, sự du nhập của nhiều luồng văn hóa, nhạc trẻ Việt Nam đã và đang có những biến đổi theo hướng mới – cả tích cực lẫn tiêu cực. Trong sáng tác, việc tìm tòi và thể nghiệm cái mới là cần thiết, luôn được khuyến khích, cần phát huy. Tuy nhiên, mới lạ đôi khi lại là cặp bài trùng với thời thượng. Tính thời thượng có mặt tích cực của nó khi sáng tác đáp ứng kịp thời nhu cầu ca hát và nói lên được khát vọng, tâm tình của công chúng. 
Song, khoảng 15 năn nay, tính thời thượng không ngừng bộc lộ mặt trái. Ca khúc nhạc trẻ giai đoạn này nhiều hạn chế, phản cảm, gây dị ứng cho người nghe. Kiểu viết ít sáng tạo, chỉ chạy theo thị hiếu, vuốt đuôi thị hiếu thường đẻ ra những giai điệu non nớt, thiếu cá tính, “bài hát cũng chẳng có nội dung, hình thức gì cả, chỉ có một số giai điệu và lời ca. Giai điệu thì cóp nhặt đủ kiểu, lời ca thì quá ư tùy tiện, dễ dãi”. Có sản phẩm mới “ra lò” đã mang hơi hướng tồn kho, “quá đát”. Việc gây ấn tượng bằng những yếu tố hình thức trình diễn như ngoại hình và phong cách của ca sĩ, kỹ xảo sân khấu,… không khỏa lấp được sự thiếu hụt về chất lượng âm nhạc.
- Thứ tư, là nhạc nhái, nhạc chế.
Nhạc sĩ Cát Vận nhận định “người dẫn đường cho nhạc trẻ hiện nay lại chính là thị trường”. Mà đã là thị trường thì dễ có gian lận thương mại, có chiếm dụng vốn, nhạc trẻ đã bước đầu sa vào “cái bẫy” đó để rồi bị dư luận lên án là “hàng nhái”, đạo nhạc.
Trong kỷ nguyên công nghệ thông tin, nhất là từ khi Công ước Berne có hiệu lực ở Việt Nam, “phong trào toàn dân phát hiện đạo nhạc” trở nên sôi nổi, từ đó càng lộ rõ sự mập mờ giữa sáng tạo và kế thừa, càng thấy lúng túng về mức độ tiếp nhận di sản của nhân loại hoặc khai thác vốn cổ của dân tộc trong sáng tác. Mặt khác, tiêu chuẩn kép trong định hướng “dân tộc và hiện đại”, “tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc” đôi khi cũng bị hiểu một cách mơ hồ, lệch lạc để rồi “tiên tiến” theo kiểu bê nguyên xi từ giai điệu, tiết tấu đến phối khí và dàn dựng của các ca khúc nước ngoài, trong khi chính giới nhạc của các nước đó đang lên tiếng báo động về sự dễ dãi và hời hợt trong các ca khúc này; còn “đậm đà bản sắc dân tộc” là nhái lại một cách vụng về giai điệu dân ca các vùng miền đến mức người nghe không hề thấy được “chất” riêng của tác giả. 
Những năm gần đây, “ngoài nhạc nhái còn rộ thêm phong trào nhạc chế, nhạc chửi. Những bài hát xuyên tạc đầy vẻ miệt thị, thể hiện sự thiếu hiểu biết, sự bế tắc trong đời sống tinh thần thông qua trình độ thẩm mỹ âm nhạc thấp kém. Đáng lo ngại vì đối tượng của các hiện tượng tự phát này thường là giới trẻ. Và khi những cơn sốt đó qua đi luôn để lại di chứng bất lợi trong thị hiếu công chúng trẻ” [2].
Tuy nhiên, nói đi thì cũng phải nói lại, nếu chỉ nhìn nhận nhạc trẻ Việt Nam theo chiều hướng “bảo tồn cái cũ, phủ nhận cái mới” thì khó thấy điều tích cực của sự đổi thay. “Nhạc trẻ lâu nay như đứa con hoang của Hội (Hội Nhạc sĩ Việt Nam). Cần quan tâm đến giới trẻ. Họ muốn hay lên chứ họ đâu muốn làm dở đi!” [3]. Ý kiến trên rất đáng để những người làm công tác quản lý âm nhạc lưu tâm. 
Nghệ sĩ biểu diễn
Nếu cái đẹp trong sáng tác ca khúc là ca từ, giai điệu, sự hòa hợp giữa nhạc và lời, là hình tượng âm nhạc, thì cái đẹp trong nghệ thuật trình diễn (thanh nhạc, kỹ thuật sân khấu, phong cách biểu diễn,…) là lần sáng tạo thứ hai với đầy đủ ý nghĩa của nó. 
Phải thừa nhận, trong thị trường ca nhạc hiện nay, các ca sĩ đã có nhiều kỹ năng mới về tổ chức quảng bá sản phẩm, đầu tư kỹ nghệ biểu diễn… khá tốt. Tuy nhiên, với tình trạng sáng tác ca khúc như đã nêu ở trên, lại trong bối cảnh xã hội đang hình thành một lớp công chúng thưởng thức ca khúc thiên về xem nhiều hơn nghe, tất yếu sẽ xuất hiện những nghệ sĩ biểu diễn nặng về phô bày thân thể hơn là chăm chút cho giọng hát. Có lẽ do mải lo chạy theo thị hiếu mà các “ca sĩ” kiểu này thường ít lo trau dồi chuyên môn, thích phù phiếm bề nổi, ít chú ý tới phông văn hóa của bản thân hay nuôi dưỡng tâm hồn nghệ sĩ thực thụ. Hơn thế, một bộ phận ca sĩ không biết đọc nốt nhạc, không có kiến thức nhạc lý, hát nhép, tạo scandal ngày càng tăng đang là một thực trạng đáng báo động. Hậu quả là khi biểu diễn thì hát không rõ lời, “mà nếu có rõ thì cũng không biết tác giả muốn nói gì,… chỉ có múa minh họa là rôm rả nhất, loạn xạ nhất với đầy đủ thứ trang phục quái dị, vả lại múa minh họa cũng chẳng ăn nhập gì đến nội dung bài hát” [4]. 
Lực lượng thứ hai góp phần tạo nên thành công cho các buổi biểu diễn chính là nhạc công, nhưng họ lại chưa được đánh giá đúng vai trò. Một nghịch lý đã tồn tại lâu nay trong thị trường ca nhạc Việt Nam là nhạc công được trả thù lao thấp hơn rất nhiều lần so với ca sĩ, mặc dù thời lượng công việc của họ nhiều hơn. Điều này đã làm cho “cuộc sống vật chất và tinh thần anh em chưa được ổn định nên dần dần cũng mai một khả năng chuyên dẫn đến vòng luẩn quẩn ít việc - bất mãn - lười tập luyện - ít việc” [5].
Công chúng thưởng thức
Công chúng thưởng thức âm nhạc trong những năm gần đây đã có sự phân hoá rõ nét cả về trình độ nhận thức lẫn gout thẩm mỹ. Bên cạnh những người có trình độ, am hiểu, tiếp cận các tác phẩm âm nhạc có chọn lọc thì vẫn còn một bộ phận khá đông, chủ yếu là giới trẻ, có những biểu hiện chệch hướng khi tiếp cận và thưởng thức âm nhạc. Sự chệch hướng này là do họ thiếu kiến thức cơ bản về môn nghệ thuật này, và do không được định hướng đúng.
Ngoài việc thiếu trình độ, chạy theo số đông, không phân định được giá trị đích thực của âm nhạc, điều đáng lo ngại khác là tư tưởng vọng ngoại đã và đang phát triển trong một bộ phận giới trẻ. Họ cực đoan đến mức chỉ nghe nhạc ngoại, bài trừ nhạc Việt, kể cả những giá trị thực sự của âm nhạc nước nhà. Vọng ngoại là biểu hiện của thiếu nhận thức đúng đắn dẫn đến sự ngộ nhận trong tư tưởng và lối sống. Tệ hơn, trong nhận thức của họ cái gì của nước ngoài cũng đều hay ho, đều tuyệt vời, khiến họ sùng bái tất cả những gì thuộc về nước ngoài, cho rằng mọi thứ thuộc vốn cổ dân tộc là thấp kém. Từ đó dẫn đến hệ quả phái sinh là sự chuyển biến thành lòng tự ti dân tộc. Thật đáng lo thay!
Dù vậy, chúng ta không thể đổ lỗi hoàn toàn cho thị hiếu lệch lạc của giới trẻ - đối tượng cảm thụ âm nhạc, mà phải thấy được trách nhiệm của những người làm công tác âm nhạc, các cơ quan quản lý văn hoá, cơ quan quản lý giáo dục, và cả các cơ quan truyền thông có chức năng định hướng.
* * *
Âm nhạc Việt Nam nói chung, nhạc trẻ nói riêng, đang khá lạc hậu so với thế giới. Đời sống âm nhạc còn tồn tại nhiều bất cập. Những sản phẩm âm nhạc kém chất lượng, thậm chí bị cho là “thảm họa âm nhạc” vẫn tràn lan, vẫn có chỗ đứng trong lòng một bộ phận công chúng. 
Làm thế nào để đời sống âm nhạc nước nhà đi vào quy củ? Làm thế nào để âm nhạc nước nhà, đặc biệt là nhạc trẻ, phát triển một cách chuyên nghiệp hơn? Chúng tôi tin chắc đó là những trăn trở của các cơ quan hữu quan và của tất cả những ai đang tham gia vào đời sống âm nhạc ở Việt Nam.n

TÀI LIỆU TRÍCH DẪN:
[1] Theo báo Tiền Phong, Số 139, ngày 14/07/2005.
[2] Nguyễn Thị Minh Châu, Phê bình âm nhạc thời chuyển giao, Thông báo khoa học – Viện Âm nhạc, số 30 (tháng 5 – 8 năm 2010), tr. 116.
[3] Phát biểu của nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn tại Hội thảo “Ca khúc với công cuộc rung chuông cho ca khúc Việt Nam” in trong Tự hào nửa thế kỹ Hội Nhạc sĩ Việt Nam (1957 – 2007), tr. 641
[4] Kỷ yếu Hội thảo Khoa học “Âm nhạc Thành phố Hồ Chí Minh – Thực trạng và giải pháp”, tr. 158 – 159 
[5] Hội Nhạc sĩ Việt Nam, Tự hào nửa thế kỷ Hội nhạc sĩ Việt Nam (1957 – 2007), tr. 710.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây