trongdong
text logo

Những bài thơ sống mãi VỚI MỘT THỜI CHIẾN TRANH

Tác giả bài viết: (Chùm thơ Huỳnh Văn Nghệ)

Thứ tư - 28/04/2021 05:49
Ai trong chúng ta những người yêu văn học, nghệ thuật cũng từng một lần nghe, đọc câu thơ nổi tiếng của thi sĩ, chiến sĩ Huỳnh Văn Nghệ:“Từ độ mang gươm đi mở cõi/Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long”. 
Huỳnh Văn Nghệ sinh ngày 12-2-1914 tại làng Tân Tịch, Tân Uyên, tỉnh Biên Hòa, nay là phường Thường Tân, TX.Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Ông tham gia cách mạng rất sớm, là một trong những người lãnh đạo giành chính quyền năm 1945 ở Biên Hòa, từng giữ chức Tư lệnh Quân khu 7. Năm 1954, ông tập kết ra Bắc, sau đó lại trở về Nam chiến đấu. Ông mất năm 1977 tại TP.Hồ Chí Minh. Ông làm nhiều bài thơ và in trong tập “Thơ Đồng Nai”, “Thơ văn Huỳnh Văn Nghệ”. Thơ Huỳnh Văn Nghệ chân thực, mộc mạc, can trường và chan chứa tình người như chính con người ông - người lính, nhà thơ, trí thức tiêu biểu của miền Nam đi theo kháng chiến... Tên của cố thi sĩ Huỳnh Văn Nghệ được đặt cho một giải thưởng văn học - nghệ thuật của tỉnh Bình Dương. 
Nhân kỷ niệm 46 năm ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước (30.4.1975 - 30.4.2021), Tạp chí Truyền thống và Phát triển xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc một số bài thơ tiêu biểu và đặc sắc của ông, cũng như thắp nén hương tưởng nhớ một thi sĩ tài danh đã dành cả cuộc đời cống hiến cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước.
Những bài thơ sống mãi VỚI MỘT THỜI CHIẾN TRANH
Nhớ Bắc
Ai về xứ Bắc ta đi với
Thăm lại non sông giống Lạc Hồng
Từ độ mang gươm đi mở cõi
Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long

Ai nhớ người chăng? Ôi Nguyễn Hoàng!
Mà ta con cháu mấy đời hoang
Vẫn nghe trong máu hồn xa xứ
Non nước Rồng Tiên nặng nhớ thương.

Vẫn nghe tiếng hát thời quan họ
Xen nhịp từng câu vọng cổ buồn
Vẫn thương vẫn nhớ mùa vải đỏ
Mỗi lần phảng phất hương sầu riêng.

Sứ mạng ngàn thu dễ dám quên
Chinh Nam say bước quá xa miền
Kinh đô nhớ lại xa muôn dặm
Muốn trở về quê, mơ cảnh tiên.

Ai đi về Bắc xin thăm hỏi
Hồn cũ anh hùng đất Cổ Loa
Hoàn Kiếm hồ xưa linh quy hỡi
Bao giờ mang trả kiếm dân ta.
Chiến khu Đ, 1946
tho rung2

Mẹ buồn
Thấy mẹ buồn, con hỏi
“Má tiếc gì má ơi!
Nhà mình con đốt rồi
Kẻo mai thành bót giặc”.

Mẹ nhìn con âu yếm
Vuốt tóc con, mỉm cười
“Thằng này nó coi tôi
Như học trò của nó

Má đẻ ra mày đó
Không nhớ, má nhắc cho.

Nhà má có ra tro
Con càng lo đánh giặc.

Nhưng mà má chỉ tiếc
Cái ống ngoáy trầu thôi
Bằng đồng chùi sáng dới
Bỏ quên trong lúc chạy

Bây giờ đồng cũng chảy...”
Bìa rừng ngồi ngắm khói lên
Mẹ buồn vì lỡ:
Bỏ quên ống ngoáy trầu.
Chiến khu Đ, 1947
tho rung

Tiếng hát giữa rừng
Ngựa bỗng dừng chân
Bên quân y viện:
Giật mình nghe tiếng
Quốc ca vang.

Phải chăng giờ chào cờ buổi sáng
Hay hội nghị cơ quan?
Sao chỉ một người cất giọng
Hát đi, rồi hát lại nhiều lần.

Xuống ngựa, buộc cương
Hỏi ra mới biết:
Bác sĩ đang cưa chân
Một chiến sĩ bị thương
Bằng cưa thợ mộc...

Bác sĩ vừa cưa vừa khóc
Chị cứu thương mắt cũng đỏ hoe
Nhìn ảnh Bác Hồ trên tấm vách tre
Anh chiến sĩ cứ mê mải hát.

Cưa cứ cưa, xương cứ đứt
Máu cứ rơi từng vết đỏ bông
Hai bàn tay siết chặt đôi hông
Dồn hết phổi vào trong tiếng hát:

“Đoàn quân Việt Nam đi, chung lòng cứu quốc...”
Đã hát đi hát lại bao lần
Vẫn chưa đứt xương chân
Vẫn chưa ngừng máu đỏ.

Vừa xong băng bó
Anh lịm đi
Hồi hộp cả núi rừng
Tiếng hát mới chịu ngưng.
Ảnh Bác Hồ như rưng rưng nước mắt.

Trở lên yên ngựa đi từng bước
Cúi đầu nén nỗi đau thương
Nhưng lửa căm hờn
Bỗng dựng cao đầu ngựa dậy
Vang trời ngựa hí
Chí phục thù cháy bỏng tay cương.
Chiến khu Đ, 1946
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây