trongdong
text logo

TƯ TƯỞNG VỀ THANH NIÊN CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH - TIẾP CẬN MỸ HỌC

Tác giả bài viết: Trần Phước Lâm - Trần Thế Vĩnh

Thứ hai - 05/07/2021 06:56
Ở bất cứ dân tộc nào, thanh niên luôn là lực lượng chủ lực, tiên phong trong việc thực hiện những nhiệm vụ trọng yếu của quốc gia, là tương lai của đất nước. Sinh thời Bác Hồ luôn đánh giá cao vị trí, vai trò quan trọng của thanh niên, Người khẳng định “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà”, là “mùa Xuân của xã hội”. 
Bác Hồ với đoàn viên, thanh niên
Bác Hồ với đoàn viên, thanh niên
Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thanh niên là hệ thống nhận thức tư duy, quan điểm lý luận của Người về những vấn đề quan trọng: Nhìn nhận, đánh giá vai trò, vị trí của thanh niên trong tiến trình lịch sử qua các thời kỳ cách mạng; đường lối nội dung bồi dưỡng, giáo dục - đào tạo thanh niên thành lớp người kế tục sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.
Tư tưởng của Bác về thanh niên, cũng như mọi tư tưởng chiến lược khác, đều mang tính chân lý cụ thể - lịch sử. Nó là những tư tưởng được xác lập trên những điều kiện lịch sử, những tiền đề xã hội xác định, trong đó có cả những tiền đề rất tinh tế, ví như tiền đề về nhân cách, về cơ chế tính cách con người thời đại.
Giáo sư Hoàng Thiệu Khang tiếp cận mỹ học những tư tưởng chiến lược của Bác về thanh niên qua việc hệ thống hóa những lời kêu gọi, những lời ân cần dặn dò, những bài nói chuyện với thanh niên của Bác, những lý tưởng thẩm mỹ mà Người đã tha thiết mong mỏi ở các thế hệ thanh niên tiếp nối kể từ những năm 1930.
Những xu huớng, giá trị, lý tưởng thẫm mỹ ấy đều mang nội dung của hai phạm trù thẫm mỹ cơ bản. Đó là cái Đẹp và cái Cao cả - Trác tuyệt.
Những nội dung thẩm mỹ đó không phải là những khái niệm mơ hồ, chung chung cho mọi thời đại, không phải là những quan niệm thẩm mỹ phi không gian và thời gian. Chúng đuợc Bác xác lập trên tiền đề cơ chế tính cách thanh niên thời đại, trong những sứ mệnh lịch sử giành độc lập, tự do cho Tổ quốc, cho nhân dân.
Cái thẩm mỹ đẹp, cái thẩm mỹ cao cả - trác tuyệt của mỗi nhân cách thanh niên được Bác xác lập chuẩn bằng một hệ đồng nhất, gắn bó làm một với cái thẩm mỹ đẹp, cái cao cả - trác tuyệt của dân tộc, của nhân dân. Tách rời cái chung của Tổ quốc, dân tộc, mỗi người thanh niên không thế tìm ra những giá trị, bản chất thẩm mỹ đó. 
Nếu tách những lời căn dặn với thanh niên của Bác khỏi logic đồng nhất thì không thể nào hiểu nổi chân lý có tính cụ thể - lịch sử của nó. Do vậy, cũng không thể nào tiếp cận đuợc nội dung của những bản chất và giá trị thẩm mỹ đúng đắn mà Nguời đã xác lập như là những yếu tố cơ sở.
Xác lập cơ sở của logic đồng nhất, Bác tiếp đặt sứ mệnh của thanh niên. Đó là một hệ thống những nhiệm vụ trong các chiến lược cách mạng. Tiếp cận mỹ học, chúng ta sẽ tìm thấy ở đây những phẩm chất thẩm mỹ của nhân cách thanh niên mà Người đặc biệt nhấn mạnh.
Tinh thần thẩm mỹ bao trùm mà Người xác lập là cái đẹp của cách thể “vì nước, vì dân” chứ không vị kỷ. Đây thực sự là thẩm mỹ của một chủ nghĩa nhân văn mới, là thẩm mỹ của đức hy sinh mà truyền thống mỹ học Phương Đông đã gọi là thẩm mỹ của đức “Vô Ngã”.
Thẩm mỹ cái đẹp, cái cao cả - trác tuyệt ở đây đã thống nhất trong một nhân cách vị tha - một nội dung trung tâm của hệ thống thẩm mỹ nhân vân. Nhân cách đẹp vị tha vươn tới tầm cao cả vì đó là một vị tha gắn liền với lý tưởng vì nước, vì dân, vì lợi ích chung.
Để có thể gánh trên đôi vai mình sứ mệnh thời đại, người thanh niên phải sung sức một thẩm mỹ nhân cách mới. Đây chính là ý nghĩa của câu nói: “Muốn có chủ nghĩa xã hội phải có con người xã hội chủ nghĩa” (Hồ Chủ tịch).
Theo logic đó, Bác đã lần lượt xác lập một hệ chuẩn thẩm mỹ nhân cách cho thanh niên.
Ngay từ những ngày đầu của Cách mạng tháng Tám thắng lợi, trong bối cảnh Bác chủ trương cải tổ đời sống cũ, xác lập đời sống mới (phong trào có tên “Đời sống mới”). Bác có gửi cho thanh niên và nhi đồng lời chúc tết, Bác viết:
“Đời sống mới” là:
Hăng hái, kiên quyết, không sợ khó, không sợ khổ.
Phải siêng học, phải siêng làm, phải tiết kiệm.
Việc nên làm (như ủng hộ kháng chiến, tăng gia sản xuất) thì ta không chờ ai nhắn nhủ.
Việc nên tránh (như sự tự tư tự lợi) thì ta không đợi ai ngăn ngừa”.
   (Lời chúc tết thanh niên và nhi đồng, 1946)
Thì ra, đời sống mới, trước hết là con người mới. Huấn thị của Người nhằm chuẩn bị cho thanh niên một tinh thần mới để có thể đối đầu với giai đoạn lịch sử sẽ tràn đầy khó khăn, gian khổ - cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược. Chuẩn thẩm mỹ nhân cách ở đây được đặc biệt nhấn mạnh nơi tính tích cực tự giác của thanh niên. Đó chính là tầm của một chủ thể thẩm mỹ tự giác về những giá trị thẩm mỹ của nhân cách mình.
Khi đã đi vào cuộc trường kỳ kháng chiến chống Pháp, ngày 17 tháng 8 năm 1947, trong bức thư “Gửi các bạn thanh niên”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác lập một hệ chuẩn thật cụ thể cho thanh niên. Người viết:
“a. Các sự hy sinh khó nhọc thì mình làm trước người ta, còn sự sung sướng thanh nhàn thì mình nhường người ta hưởng trước (tiên thiên hạ ưu, hậu thiên hạ lạc).
 b. Các việc đáng làm thì có khó mấy cũng quyết làm cho kỳ được.
 c. Ham làm những việc ích quốc, lợi dân. Không ham địa vị, công danh, phú quý.
 d. Đem lòng chí công vô tư mà đối với người, với việc.
 e. Quyết làm gương về mọi mặt, siêng năng, tiết kiệm trong sạch.
 f. Chớ kiêu ngạo, tự mãn, tự túc, nên ít nói, làm nhiều, thân ái, đoàn kết”.
Dõi theo 6 điều Người căn dặn thanh niên, chúng ta có thể tìm thấy một trật tự đáng lưu ý.
Từ đầu tức là nơi xuất phát (a), Người nói về thẩm mỹ chữ NHÂN. Đó là lòng nhân ái, đức nhường cho người khác. Vậy, trong hệ thống tư tưởng phương Đông, đó là thẩm mỹ của đức hy sinh, của Vô Ngã.
Từ chữ NHÂN, Bác nói đến chữ CHÍ – cái sức mạnh của ý chí, của quyết tâm (b). Rồi Người nói sang chữ NGUYỆN – cái sở nguyện, cái mong muốn (c). Đó là cái sở nguyện ở tầm cao cả chứ không nói tầm thấp của thái độ vị kỷ nhỏ bé. Cũng bởi vì cái sở nguyện đã được xác lập như một tiếp nối NHÂN và cái CHÍ. Trên ba căn cứ NHÂN, CHÍ, NGUYỆN, Bác Hồ tiếp nói tới chữ XỬ - phép đối xử, cái hành vi (d, e, f). Phải xử bằng “chí công vô tư”, bằng việc làm gương mẫu, bằng bình đẳng tự nhiên (đối lập với thói kiêu ngạo, huênh hoang…)
Bốn khái niệm NHÂN, CHÍ, NGUYỆN, XỬ vốn là bốn vấn đề thẩm mỹ nhân cách của tư tưởng mỹ học phương Đông. Bác đã từ bốn khái niệm truyền thống đó, xác lập bằng cách tân những giá trị, những chuẩn mực thẩm mỹ nhân cách cho thanh niên hiện đại. Đó mới chính là cái mới chân chính, vì đó là một phủ định biện chứng truyền thống, vì nơi đó ta tìm thấy một đứt đoạn trong liên tục.
Nơi trung tâm của thẩm mỹ nhân cách thanh niên là thẩm mỹ của cái TÂM. Trong chiến tranh yêu nước, cái tâm ấy được biểu hiện tập trung nơi tình yêu đất nước, yêu độc lập – tự do.
Như chúng ta đều biết, trong truyền thống tư tưởng phương Đông, về nhân cách giác ngộ chân lý, có ba chặng phát triển. Đó là chặng hiểu chân lý (tri đạo), tiến đến chặng yêu chân lý (hiếu đạo) và cuối cùng, nơi thành kết quả là chặng hòa nhập mình vào chân lý (lạc đạo).
Với thanh niên, Bác Hồ đã đặc biệt chú trọng chặng thứ hai – chặng “hiếu đạo”. Chúng ta hiểu vì sao, trong những lời căn dặn, Bác đã tập trung nói đến tình yêu chân lý với thanh niên. Đây là nội dung thích hợp với tâm lý tuổi trẻ, với trình độ lịch lãm của họ. Có thể nói, Bác đã mong mỏi một logic “Mặt trời chân lý chiếu qua tim” nơi người thanh niên, thẩm mỹ nhân cách thanh niên đạt đến trình độ chẳng những hiểu lý tưởng, mà còn vươn tới tình yêu tha thiết lý tưởng. Trong đặc trưng tâm lý, tư tưởng tuổi trẻ, đó cũng là nơi đến của thẩm mỹ nhân cách. Và rồi, từ đó nhân cách sẽ phát triển lên trình độ cao hơn, trình độ của một nhân cách “lạc đạo”.
Tiếp cận mỹ học những tư tưởng về thanh niên của Bác chỉ là con đường đưa tới một bình diện của hệ tư tưởng chiến lược rất mực phong phú tính thực tiễn và tính lý thuyết về thanh niên của Người.
(Lược trích từ “Tuyển Hoàng Thiệu Khang”, Nhà xuất bản Văn nghệ TP. HCM, ấn hành tháng 8/2001)

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây