trongdong
text logo

Ngữ nghệ trong một tâm hồn thơ của người yêu quê!

Thứ ba - 14/04/2020 03:38
Người sống xa quê đến hơn nửa thế kỷ nhưng trân quý, “bảo tồn” tiếng Nghệ tiêu biểu, có lẽ là nhà thơ Hoàng Cát. Do vậy, không lạ gì, ở rất nhiều bài thơ, nhà thơ Hoàng Cát đã sử dụng phương ngữ với tất cả tự hào.

Nhà thơ Hoàng Cát (quê Nam Đàn, Nghệ An), vốn là người lính nhập ngũ năm 1965, chiến đấu ở chiến trường Trị Thiên - Huế - Quảng Nam đến năm 1969. Năm 2020 này kỷ niệm 45 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước cũng là năm ông kỷ niệm 55 năm nhập ngũ.
 

hc 1335
Nhà thơ Hoàng Cát.

Chiến đấu ở chiến trường, nhà thơ Hoàng Cát bị thương mất một chân. Năm 1971, anh trở lại hậu phương miền Bắc với một chân, quân hàm thượng sĩ, thương binh loại A, viết văn làm thơ ca ngợi đất nước. Rồi truyện ngắn thiếu nhi “Cây táo ông Lành” của ông (báo Văn nghệ 1974) hồn nhiên, nhân bản là thế, thế nhưng chỉ vì mấy bài phê bình suy diễn cực đoan một thời đã biến thành “vụ án văn nghệ”. “Chủ nghĩa suy diễn” đẩy ông vào “ngõ sâu u tối” nhất trên đời theo như cách gọi của nhà thơ Ngô Minh. Nhắc đến Hoàng Cát không ai quên “Ông cây táo ông Lành” như một “thương hiệu” nhức buốt của thời tư duy ấu trĩ.

Vì điều này, Hoàng Cát phải nghỉ hưu sớm, bươn chải đủ nghề để mưu sinh. Là thương binh, lại gắn với nghiệp văn chương, gánh nặng cơm áo đổ lên vai người vợ. Làm đủ nghề mưu sinh. Từ chăn nuôi lợn, nuôi chim cảnh, làm lồng chim, làm nem chạo, bán nước vỉa hè…, Hoàng Cát ghi hết vào thơ. “Em ra ngồi chợ vỉa hè/ Bán kem cùng với nước chè loãng tênh/ Tay ông hộp xốp to kềnh/ Tay xách cái ấm chông chênh, vẹo người/ Tiễn em ra khỏi cổng rồi/ Mình anh đứng lặng, bồi hồi ngó theo”, (Tiễn vợ ra chợ)

Con gái Thu Trang mới 13 tuổi đã phải ra chợ phụ giúp mẹ việc bếp núc, nhà cửa, bán hàng…”Con mười ba tuổi ngây thơ/ Nghỉ hè, ngồi chợ từ trưa tới chiều/ Nắng ròng dội xuống như thiêu/ Nón cời che mặt, chẳng lều, chẳng phên”, (Tha cho ba nhé con)

Hoàng Cát kể lại rằng, khi con gái lên cấp 2, hai vợ chồng tích góp, vay mượn để mua được một chiếc xe đạp cũ để con tự đi học. Đường đến trường gần 6km, sáng nào cũng thế, khi con vừa ra khỏi cổng, bố lặng lẽ đi theo gần 50m đến khi bóng con khuất hẳn mới về. Ông ngân ngấn nước mắt khi nhớ lại những năm tháng “hãi hùng”.

Có lẽ vì thế, thơ Hoàng Cát là tiếng thơ mộc mạc, nhân hậu, sẻ chia với đồng loại: “Vợ con đi hết cả/ Một mình anh ở nhà...”, “Chợt có tiếng ăn mày/ Kêu kêu ngoài cổng ngõ/ Nghe yếu ớt thảm thương/ Giọng của người già cả”. Muốn giúp người ăn mày, nhưng thật buồn: “Mở thùng xem- gạo hết/ Lục ngăn kéo – tiền không/ Mở nồi- nồi cũng rỗng/ Vo ve tiếng muỗi đàn”. Không còn cách nào khác, dù trái tim ông rớm máu với thân phận con người:
                                                                          ...Đành lòng không lên tiếng

                                                                           Vào bếp ngồi, nín in

                                                                           Coi như nhà vắng hết

                                                                          Trốn, lừa người ăn xin!

(Trốn, lừa người ăn mày)

Thơ Hoàng Cát, cứ thế là tiếng nói của thân phận, thấm đẫm tình người, tình bạn, tình đồng đội, tình yêu quê hương, đất nước.

Là người xứ Nghệ, thuần Nghệ, nhà thơ Hoàng Cát viết về xứ Nghệ rất đặc sắc, khó lẫn. Ngoài sự hồn hậu, ông sử dụng Nghệ ngữ trong thơ mình với tất cả sự tự hào. Trong giao tiếp hàng ngày, mỗi lần đến nhà ông, đều được nhà thơ “rả” giọng Nghệ rất đỗi đầm ấm. Không được nói tiếng Nghệ, ông không chịu được. “Năm mươi năm sống trửa lòng Hà Nội/ Nỏ khi mô tui quên được quê nhà/ Nhớ mần răng mà hắn nhớ diết da/ Sèm được nghe "ri, tê" cho sướng rọt”, (Rành sèm nghe tiếng Nghệ”. Bài thơ này có thể xem như một “tuyên ngôn” của tấm lòng ông với tiếng Nghệ, giọng Nghệ.
 

lam 1336
Sông Lam, chảy qua quê hương nhà thơ Hoàng Cát.

Tiếng Nghệ xuất phát từ đất Nghệ. Trải qua biết bao thăng trầm của lịch sử với nhiều tên gọi khác nhau, từ Hoài Hoan, Cửu Đức của nước Văn Lang rồi Hoan châu, Nghệ An châu (1030), Nghệ An thừa tuyên, rồi xứ Nghệ (1490). Xứ Nghệ có từ đây. Ngày nay dù đơn vị hành chính đã đổi thay, nhưng nói tới xứ Nghệ là mọi người nghĩ tới Nghệ An - Hà Tĩnh.

Xứ Nghệ gắn liền với người Nghệ và văn hoá Nghệ. Tiếng Nghệ của người Nghệ đã góp phần làm cho chất Nghệ đậm đà sâu lắng, ấn tượng hơn trong văn hoá Việt. Có thể nói tiếng Nghệ là tiếng nói của người Nghệ bản xứ. Người Nghệ đi xa sống những vùng đất khác, đời đầu tiên còn mang theo tiếng Nghệ. Người xứ khác đến xứ Nghệ sinh sống, lâu đời họ cũng bị Nghệ hoá và trở thành dân Nghệ. Vượt qua thời gian tiếng Nghệ không những tồn tại phát triển mà đã trở thành đặc sản của quê hương. Nó trở thành đặc sản bởi đó là sản phẩm đặc biệt của người xứ Nghệ, khác với mọi nơi.
 

quee nh 1337
Cánh đồng cói dọc Lam giang.

Người sống xa quê đến hơn nửa thế kỷ nhưng trân quý, “bảo tồn” tiếng Nghệ tiêu biểu, có lẽ là nhà thơ Hoàng Cát. Do vậy, không lạ gì, ở rất nhiều bài thơ, nhà thơ Hoàng Cát đã sử dụng phương ngữ với tất cả tự hào: “Vĩnh hằng tĩnh lặng hoàng hôn/ Ta ngồi một chắc nhấp buồn rỗng không”, (Uống rượu một chắc).

                                                                    ...

                                                                   Mi phải vì ta mà sớm phải giã từ

                                                                   Nếu ngày ấy mi không đưa tấm thân mi hứng đạn

Toàn bộ thân thể ta chắc đã hóa đất rồi

                                                                  Ta chịu ơn mi – chân trái ơi, cho tới ngày nắng tắt.

(Nghĩ về cái chân đã mất)

Nhắc đến nhà thơ Hoàng Cát, nhiều chung một nhân xét, cuộc đời anh còn chẳng biết khổ là gì nữa. Vậy nhưng, nhà thơ cực kỳ đáng yêu, chưa bao giờ thấy anh kêu khổ, toàn thấy anh kêu khổ giùm bạn bè, nói thằng ni, thằng tê khổ lắm bay ơi, đứa mô có giúp hắn với bay nờ.

Tuổi đã lớn, mái tóc trắng như mây. Trên tầng 2 một khu tập thể nhà thơ vẫn viết, rượu vẫn uống, uống say thì hú hét hát hò, ba hoa bốc phét chuyện gái gẩm mua vui, nói con này lá tre con kia lá mít hay lắm hay lắm, tau mần như ri tau mần như tê đã cái mớ đời bay ơi. Cứ thế, vượt lên tất cả, nhân hậu như Nghệ, thơ đằm su như Nghệ./.

RÀNH SÈM NGHE TIẾNG NGHỆ

Năm mươi năm sống trửa lòng Hà Nội

Nỏ khi mô tui quên được quê nhà

Nhớ mần răng mà hắn nhớ diết da

Sèm được nghe "ri, tê" cho sướng rọt!

Đang tự nhiên, ai kêu: "Cho đọi nác..."

Rứa là rọt gan tui hấn rành cuộn cả lên

Tui nhớ nhà, nhớ mệ, nhớ các em

Nhớ cả cấy cươi tui nhởi trò đánh sớ

Tui nhớ ông tui suốt một đời rành khổ

Có trấy xoài rớt xuống nỏ đành ăn

Để triều về cho cháu nhỏ quây quần

Ông dạy, dộ rồi chia đều từng đứa

Chưa có khi mô tui chộ ông đi dép nợ!

Rành chưn không, phủi bộp bộp - lên giường

Ông buồn chi mà rành thở dài luôn

Giừ tui tra rồi, hiểu rọt gan ông nội

Ông đã góa vô vô cùng sớm túi

Tui cụng sắp về với ông tui đây

Trong rọt, trong gan cứ nhớ tháng, nhớ ngày

Nhớ quê Nghệ! Rành sèm nghe tiếng Nghệ!

Tiếng Nghệ choa ơi! Răng mi hay rứa thế!

Nhờ có mi hình - mà choa góa thi nhân

Choa buồn, choa vui, choa nhởi, choa mần...

Nhưng nỏ có khi mô choa quên tình - Tiếng Nghệ!

Theo Pháp Luật Plus
Nguồn https://www.phapluatplus.vn/van-hoa-giai-tri/ngu-nghe-trong-mot-tam-hon-tho-cua-nguoi-yeu-que-d121950.html

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây