trongdong
text logo

Đón bắt xu thế của thị trường lao động - yếu tố quyết định trong giảm nghèo bền vững

Tác giả bài viết: Kim Chi

Thứ sáu - 08/03/2019 02:37
Diễn biến nhanh chóng của cuộc CMCN 4.0 cùng với bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng đã đặt Việt Nam trước ngưỡng cửa của nhiều cơ hội và cả thách thức.

Trong đó, tạo việc làm và tăng cường kỹ năng cho người lao động là một trong những mục tiêu quan trọng đối với quốc gia, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển có lực lượng lao động lớn như Việt Nam. Do đó, năm 2019, đón bắt xu thế thị trường lao động là một trong những lựa chọn bứt phá của ngành Lao động - Thương binh và Xã hội”, đồng chí Đào Ngọc Dung - Bộ trưởng Bộ LĐ-TB&XH đã khẳng định như vậy tại hội nghị tổng kết của ngành. Và ở mỗi địa phương, việc chuẩn bị lực lượng lao động đáp ứng được nhu cầu của thị trường sẽ là yếu tố quyết định trong giảm nghèo bền vững. 


vai-bat-1551918948

Nhiều cơ hội thị trường trong nước

Chúng ta cùng nhìn lại những con số sau: Nếu năm 1995 cả nước mới có khoảng 330 nghìn lao động làm việc trong doanh nghiệp (DN) FDI, thì năm 2007 đã tăng lên khoảng 1,5 triệu người và đến cuối năm 2018 tăng lên gần 6 triệu lao động. Như vậy, tốc độ tăng của lao động khu vực FDI khá cao, đạt bình quân 7,6%/năm giai đoạn 2005 - 2018, cao gấp gần 4 lần tăng trưởng lao động của nền kinh tế. Và thực tế, tốc độ tăng lao động ở khu vực này chưa có dấu hiệu dừng lại, bởi thu hút đầu tư nước ngoài cho phát triển kinh tế - xã hội vẫn đang là chính sách ưu tiên. Thực tế cho thấy, khu vực FDI đã tạo việc làm và thu nhập ổn định cho một bộ phận không nhỏ lao động. Lao động trong các doanh nghiệp FDI tuy chiếm tỷ trọng thấp nhưng có hiệu quả sản xuất - kinh doanh khá cao. Đóng góp đáng kể trong việc đào tạo lao động có chất lượng, sự có mặt của khu vực FDI đã góp phần làm chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông thôn ra các thành phố, các KCN, KCX lớn, cũng như góp phần quan trọng cải thiện chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam. 

Theo dự báo của ngành chức năng, các ngành nghề tập trung thu hút trong năm 2019- 2020, trước hết chủ yếu vẫn là khu vực FDI. Khu vực này dự báo sẽ tiếp tục thu hút lao động, rồi đến lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao. Để thực hiện chuyển dịch kinh tế nông thôn, theo hướng ly nông không ly hương, các doanh nghiệp, các cụm công nghiệp ở ngay nông thôn, như vậy người nông dân có thể ăn cơm nhà, làm công nghiệp. Một số ngành nghề ưu tiên, sẽ tập trung vào những ngành nghề công nghệ, các ngành nghề khoa học như tin học, đào tạo cho lĩnh vực du lịch. Rồi một số ngành nghề phù hợp với xu hướng chuyển dịch của cách mạng công nghiệp 4.0 cũng sẽ tăng lên. 

23-1551918972

Rộng cửa các thị trường khó tính

Báo cáo của Hiệp hội Xuất khẩu lao động (XKLĐ) cho thấy, trong năm 2018 có 28 thị trường tiếp nhận lao động (LĐ) Việt Nam, trong đó có 6 thị trường tiếp nhận với quy mô từ 1.000 LĐ trở lên, bao gồm thị trường Đài Loan (Trung Quốc), Nhật Bản, Malaysia, Hàn Quốc, Romania và Saudi Arabia. Lần đầu tiên có một quốc gia châu Âu nằm trong nhóm tiếp nhận nhiều LĐ Việt Nam. Ở thị trường châu Âu, ngoài CHLB Đức, mới đây, Bộ LĐ-TB&XH đã ký kết các văn bản ghi nhớ về hợp tác lao động với Romania và Bulgaria trong chuyến thăm và làm việc của Bộ trưởng Đào Ngọc Dung. Đây là hai quốc gia Đông Âu có mối quan hệ thân thiết với Việt Nam và hiện có nhiều chính sách thu hút nhân lực từ Việt Nam. Bulgaria đang có nhu cầu tiếp nhận nhiều LĐ nước ngoài vào làm việc để bù đắp sự thiếu hụt LĐ trong nước do số lượng lớn LĐ nước này đã di cư sang các nước châu Âu để có thu nhập cao hơn. Bulgaria sẽ tạo điều kiện thuận lợi để NLĐ Việt Nam sang làm việc trong một số ngành nghề như nông nghiệp, du lịch, dịch vụ, sản xuất - chế biến, lái xe. Romania có nhu cầu tiếp nhận nhiều LĐ nước ngoài, đặc biệt trong một số ngành nghề như: Hàn, xây dựng, sản xuất - chế biến các sản phẩm nông nghiệp.

Một điểm nhấn nữa trong hoạt động XKLĐ là dự báo, sang năm 2019, thị trường Nhật Bản vẫn tiếp tục thu hút LĐ Việt Nam. Đây cũng là thị trường tiếp nhận nhiều LĐ Việt Nam nhất trong nhiều năm qua. Mới đây, Nhật Bản thông qua luật mới liên quan việc tiếp nhận LĐ có trình độ, tay nghề và tiếng Nhật nhất định đến làm việc thời hạn 5 năm, với tên gọi chương trình Kỹ năng đặc định (KNĐĐ). Hiện LĐ Việt Nam sang Nhật Bản làm việc theo hai chương trình là thực tập sinh kỹ năng (TTSKN) và LĐ bậc cao (kỹ sư). Với chương trình KNĐĐ, trình độ và yêu cầu đối với NLĐ thấp hơn kỹ sư nhưng cao hơn TTSKN, có thể xem là nhân sự trình độ bậc trung. Như vậy, năm 2019 sẽ có ba chương trình làm việc tại Nhật Bản gồm TTSKN, KNĐĐ và kỹ sư. 


3-1551918986

Thách thức nâng cao chất lượng nhân lực

Có một thực tế được nhắc tới lâu nay, đó là mặc dù Việt Nam là “một câu chuyện thành công trong thu hút FDI”, nguồn nhân lực của Việt Nam là “một thế mạnh quan trọng” nhưng các nhà đầu tư nước ngoài vẫn còn băn khoăn về chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam, thiếu tính sáng tạo, thiếu tính kỷ luật. Đây chính là nguyên nhân dẫn đến việc nhiều lao động Việt Nam bị trục xuất hoặc bị sa thải và giá trị vật chất trả cho lao động của chúng ta chưa tương xứng với tiềm năng. Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đang diễn ra mạnh mẽ, cạnh tranh thu hút FDI ngày càng gay gắt, việc thu hút FDI thời gian tới đã được Việt Nam xác định phải chuyển đổi theo hướng chuyển từ thu hút số lượng sang chất lượng, thu hút công nghệ cao, thân thiện với môi trường đồng nghĩa với việc chuyển dần thu hút FDI với lợi thế giá nhân công rẻ sang cạnh tranh bằng nguồn lực chất lượng cao. Như vậy, việc nâng cao chất lượng nguồn lao động là yếu tố để nâng cao giá trị vật chất.

Đối với Phú Thọ, mục tiêu đặt ra tỷ lệ lao động qua đào tạo và truyền nghề đạt 66,5% trở lên. Trao đổi về vấn đề này, ông Hồ Đại Dũng - Phó Chủ tịch UBND tỉnh khẳng định: Để chủ động cho thị trường việc làm thời kỳ CMCN 4.0 thì từng ngành phải nghiên cứu, dự báo nguồn nhân lực; khẩn trương tổ chức các phương án đào tạo về chuyên môn, công nghệ, kỹ năng mềm và những nhu cầu cần thiết cho NLĐ.

Song song với đó là xây dựng các biện pháp, cơ chế, chính sách để hỗ trợ NLĐ. Đồng thời phải tính trước những giải pháp đối với NLĐ bị mất việc làm do ảnh hưởng của CMCN 4.0, trong đó có chính sách bảo hiểm thất nghiệp. Về phía DN, cần quan tâm đến đào tạo cho NLĐ; phối hợp với cơ sở dạy nghề theo phương châm ba cùng: Cùng tuyển sinh, cùng đào tạo và cùng giải quyết việc làm. “Trang bị các kỹ năng mới theo hướng nâng cao chất lượng đào tạo, khả năng ngoại ngữ, lao động chất lượng cao, khắc phục tình trạng thừa - thiếu cục bộ, chú trọng công tác dự báo hướng nghiệp… là những nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới”, ông Dũng nói.

 

Nguồn tin: Theo Phú Thọ Online

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây