trongdong
text logo

ĐỘC ĐÁO VĂN THÁNH MIẾU VĨNH LONG

Tác giả bài viết: Lê Đại Anh Kiệt – Hoài Nam

Chủ nhật - 24/05/2026 06:20
          Trong thời phong kiến Việt Nam có rất nhiều Văn Miếu thờ Khổng Tử và chư Nho, tôn vinh sự học. Hiện nay tính trên phạm vi cả nước còn lại nguyên vẹn hay dấu tích khoảng 10 ngôi. Ở cấp quốc gia có Văn Miếu Quốc Tử Giám Thăng Long, Văn Miếu Quốc Tử Giám Huế. Ở cấp địa phương có Văn Miếu Trấn Biên, Diên Khánh, Nghệ An… Tuy nhiên, độc đáo nhất về lịch sử hình thành, mô hình kiến trúc và nội hàm văn hóa chính là Văn Thánh Miếu Vĩnh Long.
          Hầu hết các Văn Miếu đều được thành lập theo chỉ dụ, tài lực của triều đình. Trên vùng đất mới Nam Kỳ, ngay trong thời kỳ mở cỏi khẩn hoang, chúa Nguyễn đã sớm ý thức định hình văn hóa. Năm Ất Mùi (1715), chúa Nguyễn Phúc Chu sai trấn thủ Nguyễn Phan Long và ký lục Phạm Khánh Đức xây dựng Văn miếu Trấn Biên tại thôn Tân Lai, tổng Phước Dinh, huyện Phước Chánh (nay thuộc phường Bửu Long, thành phố Biên Hòa) bên cạnh Văn miếu là trường Tỉnh học. Trước khi lên ngôi năm 1802, mỗi năm đích thân Nguyễn Vương hai lần cúng tế tại đây.
          Trong triều Nguyễn, Văn Miếu được đổi tên thành Văn Thánh Miếu. Năm 1824, vua Minh Mạng cho xây Văn Thánh Miếu Gia Định tại thôn Phú Mỹ, huyện Bình Dương (Khu du lịch Văn Thánh ngày nay). Theo mô thức chung, hai miếu này để thờ Khổng Tử và hoằng dương nho học.
          Miếu do dân tạo lập
          Sau khi chiếm ba tỉnh Miền Đông Nam Kỳ, năm 1961 thực dân Pháp đã dỡ bỏ cả Văn Miếu Trấn Biên lẫn Văn Thánh Miếu Gia Định, chủ trương xóa bỏ truyền thống văn hóa Việt Nam. Năm 1964, sau khi đàm phán đòi lại được tỉnh Vĩnh Long, Kinh lược đại thần Phan Thanh Giản chủ trì đề xướng, Đề học Nguyễn Thông trực tiếp huy động sĩ phu và nhân dân ba tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên đóng góp xây Văn Thánh Miếu Vĩnh Long.
          Có thể nói, Văn Thánh Miếu Vĩnh Long là ngôi miếu duy nhất do người dân tạo lập, không có chủ trương cũng như sự tài trợ của triều đình. Kiến trúc lúc đầu chỉ là cột gỗ mái lá đơn sơ nhưng cũng có đất đai rộng rãi cho sĩ tử nương náu quần tụ. Đồng thời với việc xây Văn Thánh Miếu, cụ Phan và Nguyễn Thông cũng di dời hài cốt của Đại sư Võ Trường Toản từ Gia Định về Ba Tri, thu hút sĩ phu 3 tỉnh Trấn Biên, Gia Định, Định Tường (đã phải nhường cho Pháp) quần tụ về đây thành phong trào “tị địa”, mà đi đầu là nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu.
Như vậy, mục đích ban đầu của việc xây Văn Miếu không chỉ đơn thuần tôn vinh nho học như các văn miếu trước đây mà còn là tinh thần phản kháng, bảo tồn truyền thống văn hóa dân tộc trước áp lực của văn hóa phương Tây.
          Văn bia được đặt ở vị trí trang trọng nhất trong Văn Thánh Miếu Vĩnh Long do Đại học sĩ Phan Thanh Giản viết đã ghi rỏ “Năm Kỷ Mùi, Tự Đức thứ 12 (1859), Gia Định, Biên Hòa, Định Tường nối nhau thất thủ, sĩ phu ba tỉnh tỵ địa qua bản tỉnh (ý nói Vĩnh Long) và các hạt An Giang, Hà Tiên. Lúc bấy giờ binh mã bận rộn, sĩ tử mang bút tòng quân, việc học bỏ bê. Năm Tự Đức thứ 15 (1862), đốc học Nguyễn Thông họp các thân hào nhân sĩ bàn việc ấy, chọn đất ở địa phận thôn Long Hồ, cách tỉnh thành hơn 2 dặm về hướng Đông Nam, phía trước sông dài, phía sau là gò cao, hai bên vườn tược…Tháng 11 năm Tự Đức thứ 17 (Giáp Tý [1864]) khởi công, tháng 9 năm nay hoàn thành (năm Bính Dần, 1866)”.
          Chỉ một năm sau, quân Pháp chiếm ba tỉnh miền Tây. Nguyễn Thông và các sĩ phu tị địa ra Bình Thuận. Phan Thanh Giản tự tử, trước khi mất ông di huấn lại cho Bá hộ Trương Ngọc Lang (một hào phú ở địa phương đã phát tâm hiến đất và ủng hộ tài lực xây Văn Thánh Miếu) tìm mọi cách bảo vệ Văn Thánh Miếu.
          Đúng như dự đoán, quân Pháp lấy cớ cần gỗ để xây dinh tỉnh trưởng, đòi tháo dỡ Văn Thánh Miếu. Nhân dân cử Bá hộ Trương Ngọc Lang làm đại diện thương thuyết. Ý chí lòng dân, sự nhẫn nại khéo léo của Bá Hộ Lang đã chiến thắng. Vượt qua số phận nghiệt ngã của Gia Định, Trấn Biên, Văn Thánh Miếu Vĩnh Long được giữ gìn nguyên vẹn.
Không chỉ duy trì, người dân Vĩnh Long và Nam Kỳ nói chung đã nhiều lần chung sức trùng tu vào các năm 1874, 1903, 1914, 1933, 1963…từng bước định hình kiến trúc của Văn Thánh Miếu ngày nay.
          Từ Thơ Lầu đến Văn Xương Các
          Một cấu trúc và nội hàm thờ cúng khác biệt của Văn Thánh Miếu Vĩnh Long so với các văn miếu khác chính là Văn Xương Các- Một ngôi nhà lầu theo cấu trúc nhà rường gọi là nằm phía trái trên đường vào Miếu.
          Nguyên buổi đầu ngôi miếu chỉ có cổng tam quan và trục thần đạo là khoảng đất rộng dẫn vào điện Đại Thành thờ Khổng Tử. Sinh thời cụ Phan Thanh Giản ao ước xây dựng một Thơ Lầu cho sĩ phu có nơi tụ hội luận bàn nhưng chưa kịp tiến hành thì thời cuộc đã đổi thay. Theo di nguyện ấy, Bá Hộ Trương Ngọc Lang đã quyên góp và xây dựng Thơ Lầu hoàn thành năm 1874. Trương Ngọc Lang dựng bia đặt tên là Tụy Văn lâu (lầu nhóm họp giới văn nhân tài tử). Tụy Văn lâu được trùng tu năm 1914 và khoảng năm 1920–1923, được đổi tên là Văn Xương các (gác Văn Xương).
          Tầng trên Văn Xương Các thờ Văn Xương Đế Quân-vị tinh quân chủ quản việc thi cử học hành. Tầng dưới, gian giữa là nơi văn nhân thi ngồi đàm đạo, phía sau là khám thờ chạm trổ tinh vi, đặt bài vị thờ hai kẻ sĩ đất Gia Định là Võ Trường Toản và Phan Thanh Giản với câu đối:
          Hoàng phong "xử sĩ" thanh cao lão.
          Tự hiệu "thư sinh" tiết liệt thần*
          Câu trên nói về cụ Võ Trường Toản, là một ông già thanh cao, ở ẩn dạy học, được vua Gia Long cho là "Sùng Đức xử sĩ". Câu dưới nói về cụ Phan Thanh Giản, vị Tiến sĩ, Kinh Lược Sứ Nam Kỳ, khi mất thành Vĩnh Long đã tự tử chết, di chúc dặn chỉ trong tấm triện là "lão thư sinh" mà thôi. 
          Bàn thờ cụ Phan còn có hai câu liễn:
          Công cái tam triều cảnh cảnh điển mô chiêu á thánh
          Đức thùy bách tánh dương dương tiết liệt sắc phong thần
          (Công khó khắp ba trào chói chói điển mô so bậc thánh.
          Đức dày gieo trăm họ hây hây tiết liệt đáng phong thần).
           Gian trái thờ các đại thần cựu trào, gian phải thờ các minh bang, tổng xã, gian sau thờ các hiền nhân, hương chức và từ có công với hai ngôi đền.
          Năm 1933, sau khi vua Bảo Đại ban sắc tái phong cho cụ là Đoan Túc Dực Bảo Trung Hưng Tôn Thần thì ở tầng dưới Văn Xương Các đặt thêm biển đề Phan Thanh Giản thần miếu bằng chữ quốc ngữ. Kề bên Văn Xương Các còn có hai khẩu súng thần công, tương truyền là súng đã dùng để bảo vệ thành Vĩnh Long từ năm 1860.
          Tại Văn Xương Các, mỗi năm có hai lễ cúng tế: Lễ giỗ cụ Phan Thanh Giản vào ngày 4 và 5 tháng 7 âm lịch. Lễ truy điệu chung các quan quân cựu trào có công và bỏ mình vì tổ quốc vào ngày 12 và 13 tháng 10 âm lịch
          Với kiến trúc và nội hàm thờ cúng tế tự của Văn Xương Các cho thấy, Văn Thánh Miếu Vĩnh Long không khô cứng tôn thờ các Nho gia của Tàu mà có kiến trúc riêng, không gian riêng, vinh danh các nho gia, hiền sĩ người Việt ngay thời hiện đại ở tại địa phương. Có thể nói không ngoa là những nhân sĩ Vĩnh Long, Nam Kỳ thời ấy đã mượn cớ tôn vinh nho học để vun đắp tinh thần yêu nước, bảo vệ, tôn vinh lịch sử, văn hóa, danh nhân Việt.
          Trí thức tân học bảo tồn nho học
          Những đợt trùng tu, bồi đắp nhiều lần liên tiếp càng thể hiện rõ hơn ý chí đó của các thế hệ tiếp nối. Đặc biệt vào năm 1903, ông Tống Hữu Định (còn được gọi là cậu Phó Mười Hai- chức Phó Cai Tổng, thứ 12 trong gia đình) đứng ra vận động quyên góp trùng tu Văn Thánh Miếu. Theo tác giả Phạm Thế Ngũ, báo Nông Cổ Mín Đàm, Lục Tỉnh Tân Văn, tiếng nói của Hội Minh Tân (một phong trào cách mạng xã hội ở Nam Kỳ có liên hệ mật thiết với phong trào Đông Du và Duy tân) đăng tải, cồ súy. Nhờ vậy, cuộc vận động được giới điền chủ, trí thức tân học cả Nam Kỳ hưởng ứng và thu được số tiền khá lớn. Đợt này đã xây lại điện Đại Thành thành (Khổng Thánh Miếu) nhà Tả Vu, Hữu Vu..
          Qua đây cũng thấy sự phát triển khác biệt giửa Nam Kỳ với Bắc và Trung Kỳ. Thời điểm ấy (1903), Bắc, Trung theo chế độ bảo hộ và tự trị, còn áp dụng khoa cử Hán học. Các nhà cách mạng ngoài ấy phải đấu tranh chống lại, mở trường Đông Kinh Nghĩa Thục dạy chữ quốc ngữ. Nam Kỳ theo chế độ thuôc địa, từ năm 1875, chữ quốc ngữ và Pháp ngữ phổ cập. Đến đầu thế kỷ 20, sách báo quốc ngữ, Pháp ngữ phát triển đến mức những trí thức tân học một mặt khuyến khích cải biến xã hôi, khơi cuộc kinh thương, một mặt chọn loc bảo tồn Nho học, trùng tu Văn Thánh Miếu như một phương cách bảo tồn văn hóa bản địa.
          Từ đó đến nay, kiến trúc Văn Thánh Miếu định hình. Mở đầu là cổng tam quan xây theo lối cổ lâu có ba tầng mái. Sau cổng là trục thần đạo đi thẳng vào điện Đại Thành. Hai bên là hai hàng sao cao vút có cùng niên đại với ngôi Văn miếu, giữa trục thần đạo có ba tấm bia đá. Tấm bia của Phan Thanh Giản soạn trước khi tuẫn tiết. Bia kỷ niệm Tống Hữu Định và giới trí thức trong cuộc trùng tu ngôi miếu lần 2. Bia thứ ba là di chúc của Trương Thị Loan (con gái của Trương Ngọc Lang), người đã hiến đất cho miếu. Cả hai bia sau do Nguyễn Liên Phong (tác giả Nam Kỳ phong tục diễn ca) viết vào thập niên đầu của thế kỷ 20.
          Kề bên Văn Xương Các còn có hai khẩu súng thần công, tương truyền là súng đã dùng để bảo vệ thành Vĩnh Long từ năm 1860. Với kiến trúc và nội hàm Văn Xương Các cho thấy Văn Thánh Miếu Vĩnh Long không đơn thuần là một thứ Viện Khổng Tử khô cứng tôn thờ các Nho gia của Tàu mà có kiến trúc riêng, không gian riêng vinh danh các Nho gia, hiền sĩ người Việt ngay thời hiện đại ở tại địa phương. Có thể nói không ngoa là những nhân sĩ Vĩnh Long, Nam Kỳ thời ấy đã sử dụng tấm bình phong tôn vinh nho học để vun đắp tinh thần yêu nước, bảo vệ, tôn vinh bản sắc văn hóa địa phương.
          Những đợt trùng tu, bồi đắp nhiều lần liên tiếp sau này càng thể hiện rõ hơn ý chí đó của các thế hệ tiếp nối. Đặc biệt vào năm 1903, ông Tống Hữu Định còn có danh xưng là cậu Phó Mười Hai (chức Phó Cai Tổng, thứ 12 trong gia đình) là người tài hoa hào sảng ở địa phương đứng ra vận động quyên góp trùng tu Văn Thánh Miếu. Theo tác giả Phạm Thế Ngũ, cuộc vận động được cổ súy công khai trên báo Nông Cổ Mín Đàm, Lục Tỉnh Tận Văn là tiếng nói của Hội Minh Tân một phong trào cách mạng xã hội ở Nam Kỳ có liên hệ mật thiết với phong trào Đông Du và Duy Tân. Cuộc quyên góp được giới điền chủ, trí thức tân học Nam Kỳ hưởng ứng và thu đươc số tiền khá lớn xây lại điện Đại Thành (Khổng Thánh Miếu) nhà Tả Vu, Hữu Du. Qua đây cũng thấy điều thú vị trong sự phát triển khác biệt các vùng miền của đất nước.
          Thời điểm năm 1905, Miền Bắc, Miền Trung theo chế độ bảo hộ và tự trị, còn bị ràng trong khoa cử Hán học từ chương. Các nhà cách mạng Bắc, Trung phải đấu tranh chống lại, mở trường Đông Kinh Nghĩa Thục dạy chữ quốc ngữ và phổ cập Tân Thư. Ở Nam Kỳ, từ năm 1875 chữ quốc ngữ và Pháp ngữ đã phổ cập. Đến đầu thế lỷ 20 báo chí quốc ngữ và Pháp ngữ  phát triển đến mức những trí thức tân học phải giữ gìn Nho học, trùng tu Văn Thánh Miếu như một phương cách bảo tồn văn hóa bản địa.
          Từ đó đến nay, kiến trúc Văn Thánh Miếu định hình, mở đầu là cổng tam quan xây theo lối cổ lâu có ba tầng mái. Sau cổng là trục thần đạo đi thẳng vào điện Đại Thành. Hai bên là hai hàng sao cao vút có cùng niên đại với ngôi Văn miếu, giữa trục thần đạo có ba tấm bia đá. Tấm bia của Phan Thanh Giản soạn trước khi tuẫn tiết, dựng năm 1911. Bia kỷ niệm Tống Hữu Định và giới trí thức trong cuộc trùng tu ngôi miếu lần 2 (1903) Bia dựng năm 1931, với di chúc của Trương Thị Loan (con gái của Trương Ngọc Lang, người đã hiến đất cho miếu). Cả hai bia sau do Nguyễn Liên Phong (tác giả Nam Kỳ phong tục diễn ca) viết vào thập niên đầu của thế kỷ 20.
          Văn Thánh Miếu không phải là đền thờ những ông Tàu cũ kỷ hàng ngàn năm trước mà là trang sử sống thời cận đại của Nam Kỳ.

 

Một góc Văn Thánh Miếu

Khẩu Thần Công

Cổng Tam Quan

Văn Xương Các Xây theo kiểu trùng thềm điệp ốc

Tấm bia đá giá trị

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây