trongdong
text logo

HUYỀN TÍCH QUỐC BẢO “ĐỊNH NAM ĐAO” CỦA MẠC THÁI TỔ

Tác giả bài viết: TS. Hoàng Văn Năm

Chủ nhật - 24/05/2026 12:00
Theo các nhà sử học, Đại Long đao của Mạc Thái Tổ (còn gọi “Định Nam đao” - do con cháu nhà Mạc tôn xưng) cùng với thanh long đao của Tống Thái Tổ (Triệu Khuông Dẫn) của Trung Quốc là hai thanh long đao của quân vương ở châu Á còn tồn tại đến ngày nay. Đây cũng là binh khí uy vũ hiếm hoi của các triều đại phong kiến nước ta mà còn được lưu truyền, bảo tồn đến ngày nay.
 
vn1

Đại Long đao nặng 12,8 kg, ước tính trọng lượng khi mới sử dụng là khoảng 15 kg, nghe nói là còn nặng hơn đại đao của Quan Vân Trường thời Tam Quốc. Tổng chiều dài của thanh đao là 239 cm. Lưỡi đao từ mũi đến hết khâu đao dài 92,5 cm, trong đó khâu đao dài 16,5 cm. Phần cán đao dài 146,5 cm, trong đó chuôi đao dài 12 cm, phần khâu đao được tạo tác theo hình nhai xế, đang há miệng nuốt lấy phần lưỡi đao.
Đại Long đao không chỉ là biểu trưng cho một loại vũ khí khủng khiếp trước kẻ thù mà còn là một tác phẩm nghệ thuật có một không hai về kỹ thuật đúc tinh xảo và các hoa văn giản dị mà tuyệt mỹ
Tương truyền, Đại Long đao là do một người thợ rèn bí ẩn thấy tướng mạo khác thường của chàng trai Mạc Đăng Dung, khi đó vẫn còn là chàng đánh cá nhà nghèo, hy vọng sau này chàng sẽ làm nên nghiệp lớn từ con đường võ học nên đã rèn riêng cho chàng.
Chàng trai đánh cá bước vào đường quan lộ sau khi đậu Võ trạng nguyên trong cuộc thi tuyển võ sĩ tại Giảng Võ đường ở Thăng Long dưới triều Lê Uy Mục. Và kể từ đó, Đại Long đao đã gắn liền với chàng trong suốt con đường “thiên lý dặm trường” gian nan hoạn nạn lên rừng xuống biển, bách chiến bách thắng trong các cuộc chinh chiến.
Vào những năm đất nước suy vong, nhân gian loạn lạc, đói khổ, nhờ tài thao lược, mưu trí và tấm lòng thương sót cho bách tích lầm than, Mạc Đăng Dung đã thu phục được lòng dân và sự ủng hộ của đông đảo quan chức trong triều đình và được thăng chức Thái sư, tước An Hưng vương, chức tước, danh vọng bậc nhất trong triều. Năm 1527, vua Lê Cung Hoàng, vị hoàng đế thứ 11 của triều Hậu Lê đã nhường ngôi cho ông.
Chiếu nhường ngôi do Đông các Đại học sĩ Nguyễn Văn Thái phụng thảo đã viết: “... Mệnh trời lòng người đều theo về người có đức. Xét Thái sư An Hưng Vương Mạc Đăng Dung nhà ngươi, bẩm tính thông minh, sáng suốt, có tài lược văn võ. Bên ngoài đánh dẹp bốn phương, các nơi đều phục tùng; bên trong coi sóc trăm quan, mọi việc đều tốt đẹp. Công to đức lớn, trời cho người theo. Nay ta cân nhắc lẽ phải, nên nhường ngôi cho. Hãy gắng sửa đức lớn, giữ mãi mệnh trời để ức triệu dân lành được yên vui. Mong kính theo đó”.
Khi Mạc Đăng Dung đăng quang, ông đã thực hiện một loạt chính sách đổi mới, chấn hưng văn hóa, giáo dục, kính trọng người hiền tài, khôi phục kinh tế, mở rộng giao thương, khuyến khích phát triển ngành nghề, xóa bỏ nhiều hàng rào thuế qaun, giảm tô tức cho người dân, mở ra một thời kỳ phát triển mới cho đất nước. Đến thời kỳ con trai ông là Mạc Đăng Doanh lên ngôi đất nước phát triển rực rỡ, “ngoài đường của rơi không người nhặt”
Khi Mạc Thái tổ băng hà, thanh long đao của ông được đem về thờ ở lăng miếu làng Cổ Trai, huyện Nghi Dương, phủ Kim Môn, trấn Hải Dương (nay là làng Cổ trai, xã Ngũ Đoan, huyện Kiến Thụy, Hải Phòng).
Năm 1592, khi nhà Mạc thất thủ ở Thăng Long, Mạc Đăng Thận (cháu 4 đời của Mạc Đăng Dung) là người coi giữ lăng miếu đã mang Đại Long đao cùng toàn bộ gia đình trốn chạy sự truy sát khắt khe của triều Lê-Trịnh, đến định cư ở vùng đất Kiên Lao (Nam Định). Để tránh nhà Trịnh trả thù, theo mật ước của gia tộc "khủ túc bất khử thủ" (bỏ chân không bỏ đầu của chữ Mạc - ), Mạc Đăng Thận đổi họ thành họ Phạm, giữ bộ thảo đầu của chữ "Mạc" để con cháu các đời sau ghi nhớ nguồn cội, có tín hiệu để nhận nhau.
Vào triều vua Minh Mạng (1821), Phan Bá Vành người Thái Bình – một lực sĩ có sức khỏe phi thường với tài ném lao đã khởi binh chống lại triều đình. Phan Bá Vành cho lập đồn căn cứ chính ở huyện Xuân Trường (Nam Định), nhiều lần đánh tiếng tỏ ý muốn mượn bảo đao của Mạc Thái Tổ để làm thần khí trên chiến địa.
Tuy nhiên, con cháu họ Phạm (gốc Mạc) đã cố gắng chôn giấu long đao, không để rơi vào tay người ngoài. Sau nhiều biến cố lịch sử, dấu tích chôn giấu không còn, Đại long đao tưởng như sẽ bị thất lạc mãi mãi.
Tuy nhiên, đến năm 1938, như một phép mầu linh thiêng, họ Phạm (gốc Mạc) làng Ngọc Tỉnh khi trùng tu từ đường, đào hồ bán nguyệt đã tìm lại được đại bảo đao của tổ tiên sau hơn 100 năm ẩn mình trong đất. Khi đào lên Đại long đao đã rỉ sét và bị ăn mòn nhưng hình dạng vẫn còn hầu như nguyên vẹn.
Năm 2010, chi họ Phạm gốc Mạc ở làng Ngọc Tỉnh cùng con cháu dòng tộc đã nghinh rước đại long đao, báu vật của Thái Tổ Mạc Đăng Dung về thờ tại Thái miếu, khu di tích tưởng niệm Vương triều Mạc tại thôn Cổ Trai, xã Ngũ Đoan, huyện Kiến Thụy, Hải Phòng.
Năm 2020, Đại Long đao của Thái tổ Mạc Đăng Dung được công nhận là bảo vật quốc gia. Cùng với những đánh giá trở lại một cách công bằng, khách quan về Mạc Thái tổ và vương triều Mạc đối với lịch sử đất nước, việc nhà nước công nhận Đại Long đao của Mạc Thái Tổ là Bảo vật quốc gia đã là một niềm tự hào to lớn của con cháu họ Mạc và của người Việt Nam chúng ta.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây