trongdong
text logo

NGÀY XUÂN TỰ VẤN MÌNH CHUYỆN NGHE NHẠC

Tác giả bài viết: Trần Tiến Khôi

Chủ nhật - 24/05/2026 12:17
Cách đây khoảng ba nghìn năm, khi nhà Chu diệt nhà Thương, kỹ nữ nhà Thương vẫn vô tư ca khúc Hậu đình hoa để mua vui cho quan lại nhà Chu mà không hề biết nỗi nhục mất nước. Vì thế họ bị hậu thế chê trách là “Thương nữ bất tri vong quốc hận, cách giang do xướng Hậu đình hoa” (Kỹ nữ nhà Thương chẳng biết hận mất nước, bên sông vẫn ca khúc Hậu đình hoa - vốn là khúc nhạc của nhà Thương), và ngày nay đâu đó chúng ta vẫn nghe câu “xướng ca vô loài” là vì vậy, âu cũng có phần đáng thương hơn đáng trách.
Cũng vào thời nhà Chu, người ta đặt ra chức quan Thái sư có nhiệm vụ chuyên đi khắp nơi để thu thập thơ dân gian về phổ nhạc tấu cho thiên tử nghe, mục đích là để người cầm quyền hiểu được tình hình đất nước, tâm tư nguyện vọng của dân chúng, biết được các mặt đắc - thất của chính sách để có sự điều chỉnh cho phù hợp.
Về sau, Khổng Tử san định lại thành Kinh Thi với 305 bài. Cuối thời Tam Quốc, để chứng minh hùng hồn cho sự u mê của một hôn quân điển hình, trong tác phẩm Tam quốc chí của mình, La Quán Trung cho người đọc xem chi tiết cha con họ Tư Mã bày tiệc rượu và cho kỹ nữ ra múa hát điệu Thục quốc, Lưu Thiện vẫn hồn nhiên khen hay mà không hề biểu lộ cảm xúc bẽ bàng của kẻ mất nước…
Đó là những chuyện xa xưa bên Tàu, còn ở nước ta, những câu chuyện về âm nhạc cũng không kém phần thú vị, hào hùng có, bi thương có… Điều đó cho thấy vai trò quan trọng của âm nhạc trong đời sống văn hóa  xã hội.
Như nhạc sĩ Phạm Duy viết: “Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, mẹ hiền ru những câu xa vời, ầu ơ tiếng ru muôn đời…”  Thuở ấu thơ chúng ta nghe nhạc một cách hồn nhiên từ những lời ru của bà của mẹ.
Và như thiên phú, bà và mẹ bao giờ hát ru cũng rất hay vì nó chuyển tải trọn vẹn tình cảm yêu thương trìu mến đến bé thơ. Và dần lớn lên, ta lại nghe và hát nhiều ca khúc tuổi học trò, tuổi mới lớn. Đến thời trung học và nhất là thời sinh viên, ta lại bắt đầu được nghe tình ca với nhiều thể loại khác nhau. Nó như một thế giới muôn màu vừa quen vừa lạ và vô cùng hấp dẫn nhưng ta lại lại thiếu người chỉ bày, hướng dẫn cho ta một cảm thụ tròn đầy.
Về phần mình, cũng trong nỗi say mê âm nhạc, sau một thời gian dài mò mẫm tôi mới biết được thế nào là những dòng nhạc mình đang thụ hưởng với những tên gọi nhạc tiền chiến, nhạc vàng, nhạc đỏ... Và tôi nhận ra rằng, để tiếp cận cũng như cảm thụ được cái hay cái đẹp của từng tác phẩm có lẽ cũng phải  chuẩn bị, học hỏi và nhất là có “duyên” như quan niệm của nhà Phật.
Tôi may  được ở gần ông nội từ thuở bé, khi ông đã ở tuổi “cổ lai hy”. Đến nay ký ức về người ông vẫn ghi dấu trong tôi với dáng người thanh tao, nho nhã… Những buổi nghỉ học, tôi thường ra khu vườn trước sân xem ông làm vườn. Lúc nghỉ tay, ông lấy que vạch xuống đất dạy cho tôi tập tò những chữ Hán đầu tiên. Ông nói “nét chữ nết người con ạ, nhớ là phải ngang ngay sổ thẳng nhé…”. Thỉnh thoảng, ông ngâm những bài trong Kinh Thi : “Đầu ngã dĩ mộc qua, báo chi dĩ quỳnh cư, phỉ báo dã, vĩnh dĩ vi hảo dã” (Người tặng ta quả mộc qua, ta đáp tặng người viên ngọc quý, chẳng phải là ta báo đáp, mà để chúng ta giao hảo dài lâu…).
Ông đọc cả những vần thơ thi hào Lý Bạch ca ngợi vẻ đẹp Dương Quí Phi trong Thái bình điệu khúc : “Vân tưởng y thường hoa tưởng dung/Xuân phong phất lãm lộ hoa nùng/Nhược phi quần ngọc sơn đầu kiến/Hội hướng giao đài nguyệt hạ phùng…” (Nhìn mây tưởng xiêm y của nàng/Nhìn hoa tưởng dung nhan của nàng/Gió xuân phảng phất khiến nàng càng nồng thắm bên hoa/Nếu chẳng phải gặp nàng nơi non nước cảnh tiên thì cũng đã gặp nàng ở chốn hàn cung). Những đêm trăng, nằm cùng ông trên chiếc chõng tre bên hè tôi luôn được nghe ông ngâm ngợi những vần thơ xưa những câu ca cổ đầy giai điệu và xúc cảm. Trăng càng chếch về tây, tôi dần chìm vào giấc ngủ nhưng bên tai vẫn văng vẳng những lời ca tiếng hát cổ phong của ông.
Nhờ những hành trang buổi đầu quý giá ấy, khi được tiếp cận với văn học cổ trung đại tôi có được đam mê cho tìm hiểu, nghiên cứu. Và cũng song hành với tôi, nỗi đam mê thưởng thức âm nhạc. Tôi tìm ra sự giao hòa, cộng hưởng những ý tình của người xưa và người nay trong những ca khúc tiền chiến mang âm hưởng trữ tình, lãng mạn cuối thập niên 1930 thế kỷ XX.
Thế giới lý tưởng “Đào hoa nguyên” của thi hào Đào Tiềm (Đào Uyên Minh), rồi ở nước ta, thi tứ của Phạm Đình Hổ nữa:
Khứ tuế đào hoa phát
Lân nữ sơ học kê
Kim tuế đào hoa phát
Dĩ giá lân gia tê
(Năm ngoái hoa đào nở
Cô láng giềng mới học cài trâm
Năm nay hoa đào nở
Đã gả cho gã đàn ông bên xóm tây)
Tất cả dường như đều có trong các nhạc phẩm “Thiên thai”, “Suối mơ”, “Bến xuân” của Văn Cao bởi trong đó phảng phất cảnh đẹp, tình yêu và tâm thức trong trẻo vô ngần của người xưa.

Năm ngoái hoa đào nở… Tranh giấy dó Đặng Cảnh Khanh. Thơ Phạm Đình Hổ.
Rồi hình ảnh trích tiên Lý Thái Bạch nhiều tâm trạng nhưng lại thoát tục, Nguyễn Du đắm chìm trong cõi cõi buồn nhân thế,“yên chi bất tẩy sinh tiền chướng, phong nguyệt không lưu tử hậu danh (Lúc sống, phấn son không rửa được nghiệp chướng. Chết rồi chỉ để lại tiếng gió trăng mà thôi), có gì đó cứ phiêu du trong “Con thuyền không bến” của Đặng Thế Phong. Và nàng Thái Chân cùng tình sử lãng mạn thiên thu với Đường Minh Hoàng nơi kinh đô Tràng An diễm lệ một thời cũng như kinh đô Thăng Long qua mấy cơn binh lửa với bao cuộc chia ly nhiều yêu thương lắm hoài niệm lại dào dạt trong tôi khi nghe “Trăng tàn bến ngự” của Dương Thiệu Tước hay “Giọt mưa thu”  của Đặng Thế Phong… 
Và tôi vô hình trung có thể thấu cảm được bao tâm sự của các nhạc sĩ tiền chiến trước những đổi thay, dâu bể qua từng ca từ, nhạc điệu họ trải ra.  Thế đó, tôi đến và yêu dòng nhạc tiền chiến từ “chiếc cầu” được bắc bởi người ông kính yêu. Rồi tiếp theo là những cơ duyên nữa, tôi được tiếp xúc với các bậc cha anh, bè bạn qua những lần đàm đạo về thi ca - âm nhạc, tôi biết thưởng thức thêm những dòng nhạc khác không kém phần thú vị. Bởi vậy, thật lý thú, tôi nghe nhạc không chỉ là để giải trí mà qua đó tôi còn nghe được, thấy được bao thanh âm, ảnh hình lắng sâu, xa khuất vọng về, hiển hiện.
Mỗi một ca khúc đều ra đời trong một hoàn cảnh, một không gian, một thời gian nhất định, nên nói có những ca khúc có ý nghĩa lịch sử có lẽ cũng không sai. Viết nên một bài hát, người nhạc sĩ đã nói hộ tâm tư của bao người qua lời ca chắt lọc và kỹ thuật xướng âm phù hợp để tạo sự hấp dẫn cho người nghe qua âm giọng của người hát. Một bài hát được coi là thành công cần sự đồng điệu, tương hợp giữa nhạc sĩ với ca sĩ và cả với người nghe.
Nhưng cách thức, nhu cầu thưởng thức âm nhạc của mỗi người mỗi khác. Sẽ là chuyện đương nhiên khi có người thích bài hát này nhưng người khác lại không; với cùng một bài hát có người thích được ca sĩ này hát thay vì ca sĩ kia.  Nhưng để một bên những cái “riêng” đó, âm nhạc là một môn nghệ thuật nên vẫn có quy chuẩn mỹ học để đánh giá chung.
Bởi vậy, khi nào người nhạc sĩ viết chệch, người ca sĩ diễn xướng lệch chuẩn để theo nhu cầu của thiểu số, sớm muộn gì cũng sẽ bị phê phán, bị xem thường. Nhưng cũng may cho nền âm nhạc hiện đại của ta bởi sự phong phú của các dòng nhạc, luôn có những lớp nhạc sĩ tài hoa, những thế hệ ca sĩ tài danh luôn biết cách tân vốn nghề của mình cho phù hợp với sự tiến bộ của văn hóa - nghệ thuật nước nhà và thế giới. 
Nhờ vậy người nghe-xem luôn có một “menu” phong phú để chọn lựa. Về phần mình, tôi cứ luôn đổi món để sao cho bài hát được nghe luôn phù hợp với tâm trạng của mình lúc đó để mỗi bài ca là một đồng vọng thiết thân, thăng hoa, dìu đỡ, yên ủi mình như một người bạn ở bên. 
                                                                      

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây