trongdong
text logo

DOANH NGHIỆP DO NGƯỜI TRẺ LÀM CHỦ: LỢI THẾ CỦA SỨC TRẺ VÀ NHỮNG ĐIỂM NGHẼN CỦA QUÁ TRÌNH TRƯỞNG THÀNH

Tác giả bài viết: Đặng Vũ Cảnh Linh

Thứ bảy - 26/09/2026 23:22
Bài viết tập trung vào nhóm thanh niên đang trực tiếp làm chủ cơ sở, doanh nghiệp hoặc tham gia khởi nghiệp, đồng thời phân tích đánh giá của thanh niên đang đi làm và sinh viên về ưu thế và hạn chế của doanh nghiệp trẻ. Kết quả cho thấy doanh nghiệp do người trẻ làm chủ được nhìn nhận mạnh về tốc độ nắm bắt xu hướng, công nghệ, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo, nhưng yếu hơn ở kinh nghiệm quản trị, vốn, pháp lý, mạng lưới và khả năng kiểm soát rủi ro. Nguồn vốn ban đầu chủ yếu dựa vào tiết kiệm cá nhân và các quan hệ gần. Tình hình hoạt động có sự phân hóa, cho thấy hỗ trợ khởi nghiệp cần chuyển từ khơi dậy ý tưởng sang đồng hành ở giai đoạn quản trị, thị trường và tăng trưởng.
kttn3
Ảnh minh họa - Nguồn: tinhuyninhbinh.vn

1. Từ tinh thần khởi nghiệp đến câu hỏi về độ bền của doanh nghiệp trẻ

Trong thảo luận về thanh niên và kinh tế tư nhân, khởi nghiệp thường là hình ảnh nổi bật nhất. Tuy nhiên, câu hỏi quan trọng không chỉ là có bao nhiêu người trẻ bắt đầu kinh doanh, mà còn là họ bắt đầu bằng nguồn lực nào, năng lực quản trị ra sao và có thể duy trì hoạt động đến mức nào. Cuộc điều tra năm 2026 cho phép tiếp cận vấn đề theo hướng này khi vừa xác định nhóm thanh niên là chủ cơ sở, chủ doanh nghiệp hoặc người khởi nghiệp, vừa tìm hiểu quy mô lao động, nguồn vốn, tình hình hoạt động và những đánh giá về ưu thế, hạn chế của doanh nghiệp trẻ.

Kết quả cho thấy 21,2% thanh niên được khảo sát hiện là chủ cơ sở, chủ doanh nghiệp hoặc người khởi nghiệp, trong khi 78,8% không thuộc nhóm này. Tỷ lệ này cho thấy đã hình thành một bộ phận đáng kể người trẻ trực tiếp tổ chức hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, nhóm làm chủ rất không đồng nhất, bao gồm hoạt động tự làm, hộ hoặc cơ sở nhỏ và một bộ phận doanh nghiệp có quy mô lao động lớn hơn. Vì vậy, không thể áp dụng một gói hỗ trợ giống nhau cho tất cả.

2. Quy mô và nguồn lực ban đầu cho thấy mức độ phân hóa lớn

Trong nhóm mô hình do thanh niên làm chủ, 25,6% chưa có lao động thuê ngoài, 15,2% có từ 1 đến 5 lao động, 13,6% có từ 6 đến 10 lao động, 17,6% có từ 11 đến 30 lao động và 28,0% có trên 30 lao động. Cơ cấu này cho thấy mẫu chủ doanh nghiệp trẻ trải từ mô hình tự làm đến doanh nghiệp đã có quy mô lao động đáng kể. Hỗ trợ vì vậy cần phân tầng theo giai đoạn, từ khởi sự, ổn định hoạt động đến mở rộng quy mô.

Nguồn vốn ban đầu chủ yếu dựa vào các nguồn lực gần. Tiết kiệm cá nhân chiếm 43,4%, gia đình hoặc người thân hỗ trợ 23,6% và bạn bè hoặc đối tác góp vốn 14,2%. Cộng ba nguồn này đạt 81,2%. Trong khi đó, vay ngân hàng chỉ chiếm 7,5%, quỹ hỗ trợ hoặc chương trình khởi nghiệp 2,8% và gọi vốn đầu tư 6,6%. Cơ cấu này phản ánh khả năng tiếp cận tài chính chính thức và nguồn vốn bên ngoài của thanh niên làm chủ còn hạn chế.

Bảng 1. Một số chỉ báo về nguồn lực và tình hình hoạt động của mô hình do thanh niên làm chủ
Đơn vị tính: %
Chỉ báo Tỷ lệ
Tiết kiệm cá nhân là nguồn vốn ban đầu chủ yếu 43,4
Gia đình/người thân hỗ trợ vốn 23,6
Bạn bè/đối tác góp vốn 14,2
Vay ngân hàng 7,5
Quỹ hỗ trợ/chương trình khởi nghiệp 2,8
Có lợi nhuận và tương đối ổn định 25,0
Tăng trưởng tốt/có khả năng mở rộng 8,0
Có lợi nhuận nhưng thấp/chưa ổn định 20,5
Đang thua lỗ ở các mức độ khác nhau 14,3
Nguồn: Điều tra về sự tham gia của thanh niên trong phát triển kinh tế tư nhân, 2026.

Tình hình hoạt động của các cơ sở, doanh nghiệp và dự án khởi nghiệp cũng phân hóa rõ. Có 25,0% cho biết đang có lợi nhuận và tương đối ổn định, 8,0% tăng trưởng tốt và có khả năng mở rộng, 20,5% có lợi nhuận nhưng thấp hoặc chưa ổn định, 15,2% mới đủ bù chi phí và 14,3% đang thua lỗ ở các mức độ khác nhau. Điều đó cho thấy một bộ phận doanh nghiệp trẻ đã tạo được nền tảng tích cực, nhưng tính bền vững và khả năng mở rộng chưa đồng đều.

3. Lợi thế của doanh nghiệp trẻ nằm ở tốc độ, công nghệ và đổi mới

Khi đánh giá ưu điểm của doanh nghiệp do người trẻ làm chủ, thanh niên đang đi làm lựa chọn nhiều nhất khả năng nhanh nhạy nắm bắt xu hướng và nhu cầu mới với 69,0%. Tiếp theo là chủ động ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số và AI với 52,8%, tư duy đổi mới, sáng tạo và thử nghiệm mô hình mới với 48,1%. Ở sinh viên, nhanh nhạy nắm bắt xu hướng vẫn đứng cao với 61,7%, trong khi tư duy đổi mới, sáng tạo đạt 55,6%, năng động về thương hiệu và truyền thông số đạt 54,1%, ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số và AI đạt 50,4%.

Hai nhóm có khác biệt về mức độ nhấn mạnh nhưng cùng tạo ra một hình ảnh nhất quán. Doanh nghiệp trẻ được nhìn nhận là có lợi thế ở tốc độ phản ứng, sự gần gũi với thị trường mới, khả năng ứng dụng công nghệ và tinh thần thử nghiệm. Đây là những năng lực đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh cạnh tranh dựa nhiều hơn vào dữ liệu, nền tảng số, thương mại điện tử và khả năng đổi mới sản phẩm, dịch vụ.

4. Điểm nghẽn lớn nhất nằm ở độ chín quản trị và nguồn lực tài chính

Bức tranh thay đổi rõ khi chuyển sang những hạn chế. Ở nhóm thanh niên đang đi làm, 62,1% cho rằng doanh nghiệp trẻ thiếu kinh nghiệm quản lý, điều hành và 42,8% nhấn mạnh hạn chế về vốn, tài sản và tiếp cận tín dụng. Nhóm hạn chế tiếp theo gồm mạng lưới quan hệ, khách hàng và đối tác 33,7%, dễ nóng vội hoặc mở rộng nhanh 33,4%, thiếu uy tín và vị thế thị trường 32,6%, khả năng dự báo và kiểm soát rủi ro còn yếu 29,5%, thiếu kinh nghiệm pháp lý, thuế và thủ tục 28,0%.

Sinh viên còn nhìn những điểm yếu này mạnh hơn. Có 66,2% đánh giá thiếu kinh nghiệm quản lý, điều hành, 60,2% cho rằng hạn chế về vốn và tiếp cận tín dụng, 48,9% lo ngại sự nóng vội và đầu tư theo xu hướng, 42,1% nhấn mạnh thiếu kinh nghiệm pháp lý, thuế và thủ tục. Những tỷ lệ này cho thấy hình ảnh doanh nghiệp trẻ không chỉ có tính lạc quan. Chính người trẻ cũng nhận ra các hạn chế liên quan đến sự trưởng thành của một tổ chức kinh doanh.

 
Bảng 2. Những ưu điểm và hạn chế nổi bật của doanh nghiệp do người trẻ làm chủ
Đơn vị tính: %
Nội dung Thanh niên đi làm Sinh viên
Nhanh nhạy nắm bắt xu hướng và nhu cầu mới 69,0 61,7
Chủ động ứng dụng công nghệ, CĐS và AI 52,8 50,4
Tư duy đổi mới, sáng tạo 48,1 55,6
Thiếu kinh nghiệm quản lý, điều hành 62,1 66,2
Hạn chế vốn, tài sản và tiếp cận tín dụng 42,8 60,2
Dễ nóng vội, đầu tư theo xu hướng/mở rộng nhanh 33,4 48,9
Thiếu kinh nghiệm pháp lý, thuế, thủ tục 28,0 42,1
Nguồn: Điều tra về sự tham gia của thanh niên trong phát triển kinh tế tư nhân, 2026.

5. Nghịch lý “nhanh nhưng chưa dày” và yêu cầu đổi mới chính sách hỗ trợ

Nếu đặt hai nhóm kết quả cạnh nhau, có thể thấy một nghịch lý khá rõ. Doanh nghiệp trẻ được đánh giá mạnh về tốc độ, công nghệ và sáng tạo, nhưng lại yếu hơn ở kinh nghiệm quản trị, vốn và độ chín trong điều hành. Nói cách khác, người trẻ có thể nhìn thấy cơ hội nhanh, học công nghệ nhanh và sẵn sàng thử nghiệm, nhưng để biến lợi thế đó thành một tổ chức bền vững cần thêm năng lực tài chính, pháp lý, quản trị rủi ro, nhân sự và mạng lưới thị trường.

Kết quả này gợi ý rằng chính sách hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp không nên chỉ tập trung vào khơi dậy tinh thần, cuộc thi ý tưởng hay hỗ trợ giai đoạn thành lập. Hỗ trợ cần kéo dài sang giai đoạn quản trị và tăng trưởng. Một dự án có thể bắt đầu bằng ý tưởng tốt nhưng vẫn thất bại nếu không quản được dòng tiền, không hiểu nghĩa vụ pháp lý, không dự báo được rủi ro hoặc không xây dựng được thị trường. Vì vậy, mô hình hỗ trợ hiệu quả cần kết hợp vốn, đào tạo quản trị, cố vấn, công nghệ, pháp lý và kết nối thị trường.

Định hướng đào tạo 10.000 giám đốc điều hành đến năm 2030 có sự tương thích với các thiếu hụt mà người trẻ tự nhận diện trong khảo sát. Các mô-đun dành cho chủ doanh nghiệp trẻ và người sáng lập nên chú trọng chiến lược, tài chính, nhân sự, chuỗi cung ứng, quản trị rủi ro, dữ liệu, AI, pháp lý và phát triển thị trường. Đồng thời, các hiệp hội doanh nghiệp và mạng lưới doanh nhân trẻ có thể chia sẻ dịch vụ chung về kế toán, pháp lý, công nghệ và cố vấn để giảm chi phí tiếp cận chuyên môn cho doanh nghiệp mới.

5.1. Khác biệt địa bàn và yêu cầu đặt doanh nghiệp trẻ trong hệ sinh thái địa phương

Tỷ lệ thanh niên là chủ cơ sở, chủ doanh nghiệp hoặc người khởi nghiệp khác biệt khá rõ giữa ba địa bàn khảo sát. Hải Phòng đạt 5,6%, Đà Nẵng 26,6% và TP. Hồ Chí Minh 31,3%. Kiểm định Chi-square cho thấy khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,001 và Cramér’s V=0,273. Kết quả này không cho phép khẳng định nguyên nhân trực tiếp từ môi trường kinh doanh của từng địa phương, nhưng cho thấy vai trò làm chủ không phân bố đồng đều trong mẫu. Vì vậy, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp trẻ cần tính đến đặc điểm của hệ sinh thái địa phương, từ mật độ doanh nghiệp, khả năng kết nối thị trường, nguồn nhân lực, dịch vụ hỗ trợ đến mức độ hiện diện của các mạng lưới doanh nhân và tổ chức thanh niên.

Điều này cũng gợi ý rằng các địa phương không nhất thiết phải áp dụng cùng một mô hình hỗ trợ. Nơi có nhiều thanh niên mới khởi sự cần ưu tiên tư vấn pháp lý, lập kế hoạch tài chính, ươm tạo và thử nghiệm thị trường. Nơi đã hình thành nhiều doanh nghiệp trẻ có quy mô lớn hơn cần chuyển trọng tâm sang quản trị tăng trưởng, đổi mới công nghệ, mở rộng chuỗi cung ứng, gọi vốn và nâng năng lực cạnh tranh. Cách tiếp cận theo giai đoạn phát triển sẽ phù hợp hơn một chương trình đồng nhất cho mọi doanh nghiệp trẻ.

5.2. Hỗ trợ vốn cần gắn với năng lực sử dụng vốn

Kết quả về nguồn vốn ban đầu cho thấy doanh nghiệp trẻ vẫn dựa nhiều vào tiết kiệm cá nhân và mạng lưới gia đình, bạn bè. Điều này giúp họ có thể bắt đầu nhanh nhưng cũng làm giới hạn quy mô và khả năng chịu đựng rủi ro. Mở rộng tiếp cận tín dụng vì vậy là cần thiết, nhưng chỉ tăng vốn chưa đủ. Một khoản vay chỉ tạo ra hiệu quả bền vững khi người trẻ có năng lực lập kế hoạch dòng tiền, quản trị chi phí, dự báo thị trường và kiểm soát rủi ro. Vì vậy, các chương trình tín dụng, quỹ hỗ trợ và kết nối đầu tư nên đi kèm cố vấn tài chính, đánh giá phương án kinh doanh và hỗ trợ sau vay.

Về dài hạn, mục tiêu cần hướng tới là giúp doanh nghiệp trẻ dịch chuyển từ việc dựa chủ yếu vào “vốn gần” sang khả năng tiếp cận các nguồn vốn chính thức và vốn thị trường phù hợp với từng giai đoạn. Sự dịch chuyển này không chỉ phụ thuộc vào chính sách tín dụng mà còn phụ thuộc vào chất lượng quản trị, minh bạch tài chính, uy tín và khả năng chứng minh mô hình kinh doanh. Đây chính là lý do hỗ trợ doanh nghiệp trẻ phải đồng thời nâng năng lực nội tại và mở rộng khả năng tiếp cận nguồn lực bên ngoài.

6. Kết luận

Doanh nghiệp do người trẻ làm chủ là một lực lượng có tiềm năng quan trọng trong phát triển kinh tế tư nhân. Lợi thế của họ nằm ở tốc độ nắm bắt xu hướng, công nghệ và tinh thần đổi mới. Điểm yếu lại nằm ở những năng lực cần thời gian tích lũy như quản trị, vốn, pháp lý, mạng lưới và kiểm soát rủi ro. Vì vậy, mục tiêu của chính sách không nên chỉ là tăng số lượng người trẻ khởi nghiệp, mà phải nâng xác suất để doanh nghiệp trẻ tồn tại, trưởng thành và mở rộng. Hỗ trợ khởi nghiệp cần được chuyển từ một thời điểm sang một hành trình, từ truyền cảm hứng sang đồng hành, từ cấp vốn đơn lẻ sang gói hỗ trợ tích hợp để giúp người trẻ biến tốc độ và sáng tạo thành năng lực cạnh tranh bền vững.

Tài liệu tham khảo
Bộ Chính trị. (2025). Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân.
Quốc hội. (2025). Nghị quyết số 198/2025/QH15 ngày 17/5/2025 về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân.
Thủ tướng Chính phủ. (2022). Quyết định số 897/QĐ-TTg ngày 26/7/2022 phê duyệt Chương trình “Hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp” giai đoạn 2022-2030.
Thủ tướng Chính phủ. (2026). Quyết định số 525/QĐ-TTg ngày 31/3/2026 phê duyệt Chương trình đào tạo, bồi dưỡng 10.000 giám đốc điều hành đến năm 2030.
World Bank. (2024). Việt Nam 2045: Nâng cao vị thế thương mại trong một thế giới đang thay đổi - Con đường dẫn đến tương lai thu nhập cao. Washington, DC: World Bank Group.
Viện Đào tạo, Bồi dưỡng cán bộ và Nghiên cứu khoa học. (2026). Dữ liệu điều tra về sự tham gia của thanh niên trong phát triển kinh tế tư nhân tại Hải Phòng, Đà Nẵng và TP. Hồ Chí Minh.




 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây