trongdong
text logo

TỪ BIẾT CHÍNH SÁCH ĐẾN SỬ DỤNG CHÍNH SÁCH: XÂY DỰNG HỆ SINH THÁI HỖ TRỢ THANH NIÊN PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN

Tác giả bài viết: Đặng Vũ Cảnh Linh

Thứ ba - 29/09/2026 12:32
Bài viết phân tích khoảng cách giữa nhận biết, tiếp cận, sử dụng và đánh giá hiệu quả các chính sách, chương trình hỗ trợ thanh niên phát triển kinh tế tư nhân. Kết quả điều tra cho thấy phần lớn thanh niên mới dừng ở mức không biết hoặc đã nghe nhưng chưa rõ, trong khi tỷ lệ đã thực sự tham gia các chương trình hỗ trợ còn hạn chế. Nhu cầu của thanh niên tập trung vào kỹ năng nghề, vốn, quản trị, pháp lý, thị trường và cố vấn. Thanh niên đang đi làm mong Đoàn, Hội cung cấp thông tin chính sách, còn sinh viên mong được kết nối với doanh nhân, chuyên gia và nhà đầu tư. Trên cơ sở đó, tham luận đề xuất xây dựng hệ sinh thái hỗ trợ theo hướng phân tầng đối tượng, tăng vai trò điều phối của MTTQ, Đoàn, Hội, phát triển mạng lưới trong doanh nghiệp tư nhân và thiết lập cơ chế “một cửa” định tuyến người trẻ tới đúng nguồn lực.
Ảnh minh họa - Nguồn: Tạp chí Tổ chức nhà nước và Lao động
 
 
1. Khoảng cách từ chính sách đến người trẻ

Trong những năm gần đây, khung chính sách về phát triển kinh tế tư nhân và hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp được mở rộng. Tuy nhiên, việc chính sách được ban hành không tự động đồng nghĩa với việc người trẻ biết, hiểu và sử dụng được chính sách. Cuộc điều tra năm 2026 vì vậy không chỉ hỏi thanh niên có biết một chủ trương lớn như Nghị quyết số 68-NQ/TW hay không, mà tiếp tục đo mức độ biết các chương trình hỗ trợ, mức đã tham gia, nguyên nhân chưa tiếp cận, đánh giá hiệu quả và nhu cầu cụ thể.

Đối với thanh niên đang đi làm, 34,3% hoàn toàn không biết các chính sách hoặc chương trình hỗ trợ và 36,5% mới chỉ nghe nhưng chưa rõ. Như vậy, 70,8% thuộc hai mức nhận biết thấp nhất. Chỉ 4,0% biết tương đối rõ và 2,3% biết rất rõ hoặc đã từng tham gia. Điểm trung bình đạt 2,04 trên thang 5 điểm. Ở sinh viên, 18,7% không biết và 46,0% đã nghe nhưng chưa rõ, tổng cộng 64,7%. Điểm trung bình của sinh viên là 2,25, cao hơn nhóm đi làm nhưng vẫn chưa đạt mức hiểu sâu.

2. Điểm nghẽn không chỉ là thiếu chính sách mà là khó khăn trong việc thanh niên tiếp cận chính sách

Khi chuyển từ mức độ biết sang trải nghiệm tham gia, khoảng cách còn rõ hơn. Có tới 47,1% thanh niên đang đi làm chưa từng tiếp cận chương trình hỗ trợ nào, trong khi ở sinh viên là 38,0%. Thanh niên đang đi làm tiếp cận nhiều nhất vay vốn ưu đãi hoặc tín dụng hỗ trợ với 29,0%, chương trình hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp 19,4% và đào tạo kỹ năng 18,8%. Sinh viên tiếp cận nhiều hơn các cuộc thi hoặc chương trình khởi nghiệp với 29,3%, chương trình hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp 24,7% và đào tạo kỹ năng 24,0%.

Lý do chưa tiếp cận cho thấy điểm nghẽn đầu tiên nằm ở thông tin. Có 58,7% thanh niên đang đi làm và 53,6% sinh viên trong nhóm chưa tiếp cận cho biết họ không biết thông tin. Gần ba trong mười người ở cả hai nhóm cho biết chưa có nhu cầu trực tiếp. Các rào cản về thủ tục, điều kiện tham gia hay mức độ tin tưởng có xuất hiện nhưng tỷ lệ thấp hơn. Như vậy, một hệ sinh thái hỗ trợ hiệu quả trước hết phải giúp người trẻ biết mình thuộc nhóm nào, nhu cầu nào được hỗ trợ, đầu mối ở đâu và thủ tục cần làm gì.

 
Bảng 1. Một số chỉ báo về nhận biết và tiếp cận chính sách, chương trình hỗ trợ
Đơn vị tính: %
Chỉ báo Thanh niên đi làm Sinh viên
Không biết chính sách/chương trình hỗ trợ 34,3 18,7
Đã nghe nhưng chưa rõ 36,5 46,0
Biết tương đối rõ hoặc biết rất rõ/đã tham gia 6,3 7,3
Chưa từng tiếp cận chương trình hỗ trợ nào 47,1 38,0
Không biết thông tin là lý do chưa tiếp cận 58,7 53,6
Nguồn: Điều tra về sự tham gia của thanh niên trong phát triển kinh tế tư nhân, 2026.

3. Hiệu quả được đánh giá từ trung bình đến tích cực, nhưng trải nghiệm còn mỏng

Ở thanh niên đang đi làm, 45,7% đánh giá hiệu quả các chính sách, chương trình ở mức trung bình, 24,0% ở mức cao và 3,5% rất cao. Điểm trung bình đạt 3,27 trên thang 5 điểm, trong khi 20,2% không biết hoặc khó đánh giá. Ở sinh viên, 32,0% đánh giá mức trung bình, 33,3% mức cao và 9,3% rất cao, điểm trung bình đạt 3,46. Tỷ lệ không biết hoặc khó đánh giá là 15,3%.

Kết quả chưa cho thấy sự đánh giá tiêu cực, nhưng cũng chưa thể hiện mức độ hài lòng thật sự cao. Điểm đáng lưu ý nằm ở khoảng cách giữa “có chính sách, chương trình” và khả năng người trẻ cảm nhận được hiệu quả cụ thể. Khi số người chưa từng tiếp cận còn lớn, đánh giá về hiệu quả tất yếu bị giới hạn bởi mức độ trải nghiệm. Vì vậy, cải thiện chính sách không chỉ là mở rộng danh mục hỗ trợ mà phải tăng khả năng tiếp cận thực tế và chất lượng sử dụng.

4. Nhu cầu hỗ trợ khác nhau theo vị thế của người trẻ

Nhu cầu hỗ trợ tập trung rõ nhất vào kỹ năng nghề và nguồn vốn. Ở thanh niên đang đi làm, đào tạo nghề và nâng cao tay nghề đạt 53,2%, vay vốn và tiếp cận tín dụng đạt 52,5%. Nhóm nhu cầu tiếp theo gồm kiến thức pháp luật, thuế và đăng ký kinh doanh 26,2%, kỹ năng quản lý và lập kế hoạch kinh doanh 25,8%, bảo hiểm và an sinh 24,8%, tìm khách hàng và thị trường 24,3%, chuyển đổi số và thương mại điện tử 20,5%.

Đối với sinh viên, đào tạo nghề và nâng cao tay nghề cũng đứng đầu với 54,7%, vay vốn đạt 42,7%. Tuy nhiên, nhu cầu của sinh viên trải rộng hơn ở pháp lý và thị trường cùng đạt 34,7%, xây dựng thương hiệu 28,7%, kỹ năng quản lý 28,0%, chuyển đổi số 27,3%, cố vấn 26,0% và hỗ trợ mặt bằng, thiết bị, công nghệ 25,3%. Có thể coi đây là một “gói năng lực khởi sự” rộng hơn, phù hợp với vị thế của nhóm đang chuẩn bị gia nhập thị trường lao động hoặc thử sức với kinh doanh.
Bảng 2. Những nhu cầu hỗ trợ nổi bật của hai nhóm thanh niên
Đơn vị tính: %
Nhu cầu Thanh niên đi làm Sinh viên
Đào tạo nghề, nâng cao tay nghề 53,2 54,7
Vay vốn, tiếp cận tín dụng 52,5 42,7
Kiến thức pháp luật, thuế, đăng ký kinh doanh 26,2 34,7
Tìm khách hàng, thị trường, đầu ra 24,3 34,7
Chuyển đổi số, TMĐT, marketing online 20,5 27,3
Cố vấn/tư vấn từ doanh nhân, chuyên gia 14,3 26,0
Nguồn: Điều tra về sự tham gia của thanh niên trong phát triển kinh tế tư nhân, 2026.

5. Mặt trận tổ quốc Việt Nam, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, các tổ chức Hội quần chúng cần chuyển từ tổ chức hoạt động sang kiến tạo hệ sinh thái

Mặt trận, Tổ chức Đoàn, Hội có lợi thế về mạng lưới, khả năng tập hợp thanh niên và kết nối với cơ quan quản lý, doanh nghiệp, chuyên gia. Đồng thời, các tổ chức này còn có chức năng đại diện, chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của thanh niên. Kết quả khảo sát cho thấy thanh niên đang đi làm mong muốn nhiều nhất được cung cấp thông tin chính sách và cơ hội hỗ trợ, với 58,6%, trong khi sinh viên mong muốn nhiều nhất được kết nối doanh nhân, chuyên gia và nhà đầu tư, với 48,7%. Hai kỳ vọng này cho thấy vai trò phù hợp nhất của Đoàn, Hội là đầu mối kết nối và định tuyến nguồn lực, chứ không phải tự cung cấp toàn bộ dịch vụ chuyên môn.

Cần có sự chỉ đạo thống nhất từ Trung ương Đoàn đến các tỉnh, thành Đoàn và cấp bộ Đoàn cơ sở để đưa hỗ trợ thanh niên tham gia kinh tế tư nhân thành nội dung thường xuyên trong chương trình hành động. Trên cơ sở một khung chung, địa phương cần được khuyến khích phát triển sáng kiến phù hợp với cơ cấu ngành nghề và nhu cầu thanh niên trên địa bàn. Đồng thời, cần mở rộng tổ chức Đoàn, Hội và các hình thức tập hợp thanh niên trong doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước, khu công nghiệp và cụm sản xuất, dịch vụ. Điều này đặc biệt quan trọng khi gần 80% thanh niên trong mẫu đang làm công ăn lương trong doanh nghiệp tư nhân.

Có thể nghiên cứu cơ chế “một cửa hỗ trợ thanh niên phát triển kinh tế tư nhân” theo hướng tiếp nhận nhu cầu rồi kết nối tới đúng đầu mối. Người cần vốn được hướng dẫn tới chương trình tín dụng phù hợp. Người cần kỹ năng được kết nối với cơ sở đào tạo. Người có dự án khởi nghiệp được giới thiệu tới chuyên gia, vườn ươm, nhà đầu tư hoặc hiệp hội doanh nghiệp. Người gặp khó khăn pháp lý được chuyển tới đơn vị tư vấn có chuyên môn. Cách làm này giúp biến mạng lưới tổ chức thành một cơ chế hỗ trợ có khả năng dẫn đường cho người trẻ.

Cùng với đó, cần nâng chất các câu lạc bộ và mạng lưới thanh niên làm kinh tế theo hướng cộng đồng học hỏi thực chất. Có 65,8% thanh niên đang đi làm và 54,7% sinh viên sẵn sàng hoặc rất sẵn sàng tham gia câu lạc bộ, mạng lưới hoặc chương trình hỗ trợ. Đây là nguồn lực xã hội đáng kể để phát triển cố vấn đồng đẳng, nhóm chuyên môn theo lĩnh vực, chia sẻ thông tin thị trường và kết nối chuỗi cung ứng.

6. Việc làm và khởi nghiệp phải được đặt trong cùng một hệ sinh thái hỗ trợ

Một phát hiện xuyên suốt của nghiên cứu là số đông thanh niên tham gia kinh tế tư nhân với tư cách người lao động. Vì vậy, các chương trình hỗ trợ không nên chỉ tập trung vào khởi nghiệp. Đoàn, Hội và các tổ chức xã hội cần coi giới thiệu việc làm, tư vấn nghề nghiệp, kỹ năng nghề, tư vấn pháp luật lao động, phúc lợi và bảo vệ quyền lợi là một trụ cột ngang với khởi nghiệp. Có 29,5% thanh niên đang đi làm mong tổ chức Đoàn, Hội hỗ trợ bảo vệ quyền lợi lao động trong khu vực tư nhân.

Đối với khởi nghiệp, hỗ trợ cần đi từ ý tưởng đến tăng trưởng. Bên cạnh cuộc thi và ngày hội khởi nghiệp, cần phát hiện dự án có triển vọng, giới thiệu và kết nối với doanh nghiệp, tổ chức tín dụng, quỹ đầu tư, chuyên gia, cơ sở hỗ trợ khởi nghiệp, hỗ trợ kỹ thuật, pháp lý, kế toán, quản trị tài chính và thị trường. Những doanh nghiệp trẻ thành công nên được sử dụng như nguồn học tập thực tế, chia sẻ cả kinh nghiệm thành công lẫn thất bại. Hỗ trợ vốn cũng cần đi cùng năng lực sử dụng vốn để giảm rủi ro và tăng khả năng tồn tại của dự án.

7. Kết luận

Khoảng cách từ chính sách đến người trẻ hiện nằm ở nhiều tầng: biết, hiểu, tiếp cận, sử dụng và cảm nhận được hiệu quả. Kết quả điều tra cho thấy vấn đề không chỉ là thiếu chính sách mà còn là thiếu một cơ chế giúp thanh niên tìm thấy chính sách phù hợp và kết nối với nguồn lực cần thiết. Vì vậy, hệ sinh thái hỗ trợ cần được thiết kế theo vị thế của từng nhóm, từ sinh viên, lao động làm công, lao động tự do đến người khởi nghiệp và chủ doanh nghiệp trẻ. Vai trò của MTTQ Việt Nam, Đoàn, Hội và các tổ chức xã hội cần chuyển mạnh từ “tổ chức hoạt động cho thanh niên” sang “kiến tạo hệ sinh thái để thanh niên tự phát triển”. Thước đo cuối cùng phải là số người tìm được việc tốt hơn, số người được nâng tay nghề, số dự án tiếp cận vốn và cố vấn, số doanh nghiệp trẻ phát triển bền vững và số lao động trẻ được tập hợp, bảo vệ quyền lợi tốt hơn.

Tài liệu tham khảo
Bộ Chính trị. (2025). Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân.
Quốc hội. (2025). Nghị quyết số 198/2025/QH15 ngày 17/5/2025 về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân.
Thủ tướng Chính phủ. (2022). Quyết định số 897/QĐ-TTg ngày 26/7/2022 phê duyệt Chương trình “Hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp” giai đoạn 2022-2030.
Thủ tướng Chính phủ. (2026). Quyết định số 525/QĐ-TTg ngày 31/3/2026 phê duyệt Chương trình đào tạo, bồi dưỡng 10.000 giám đốc điều hành đến năm 2030.
World Bank. (2024). Việt Nam 2045: Nâng cao vị thế thương mại trong một thế giới đang thay đổi - Con đường dẫn đến tương lai thu nhập cao. Washington, DC: World Bank Group.
Viện Đào tạo, Bồi dưỡng cán bộ và Nghiên cứu khoa học. (2026). Dữ liệu điều tra về sự tham gia của thanh niên trong phát triển kinh tế tư nhân tại Hải Phòng, Đà Nẵng và TP. Hồ Chí Minh.

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây